Giới Luật là công truyền ( phổ biến rộng rãi) chứ không phải bí truyền ( chỉ dạy trong nội bộ Tăng đoàn). Sở dĩ, chư Tổ ngày xưa hay hạn chế, hoặc không giảng dạy giới Luật cho cư sĩ bởi vì hàng cư sĩ thường có nạn '' vạch lá tìm sâu ''. Đôi khi sự hiểu biết về giới Luật của Tăng biến họ thành chiếc camera của dư luận. Họ đi bới móc những điều giới vụn vặt ( Chư Tăng có quyền khai giới đó được trong một số trường hợp ). Xong với tâm cố chấp và ngã mạn lại đi tạo thị phi làm ảnh hưởng tới quá trình tu học của chư Tăng và chính họ ( vì không còn thời gian tu học chỉ tạo thị phi tổn phước lành).
Tuy nhiên, nếu người cư sĩ nào muốn thiệt cầu học để biết pháp của Phật mà thọ trì lại tạo phương tiện cho chư Tăng giữ giới trọn vẹn thì thật rất đáng quý.
Một trường hợp khác là gặp lúc thị phi, thí dụ như trong Tăng đoàn nhiều người bất tịnh, đảo lộn trắng đen, phạm giới nhẹ bị nói phạm giới nặng, phạm giới nghiêm trọng thì nói là không phạm hoặc nhẹ. Khi đó giới Luật cần phải công khai để đại chúng biết mà phân biệt.
Hôm nay tôi chia sẻ đôi chút về giới Luật cũng vì lẽ đó.
Có lẽ gần đây đại chúng cũng rầm rộ, bàn tán về việc một người tu sĩ ( dựa trên hình tướng được phổ biến) vướng thị phi với một nữ cư sĩ, tóm yếu trong các cáo buột : gian dâm và tự xưng Thánh Tăng, gạt tài sản...
Những điều tôi sắp chia sẻ không nhắm vào cá nhân một ai hay đoàn thể, hội nhóm nào mà là trình bày một cách khách quan cho đại chúng cùng tham khảo.
Nói về gian dâm, tội này quá rõ, mà cư sĩ ai cũng biết. Chỉ có là họ đủ trí tuệ, chánh kiến để nhìn nhận hay không thôi. Ai cũng hiểu tu sĩ là tuyệt đối cấm dâm dục. Trong Luật Phật dạy chỉ trừ 3 trường hợp ngoại lệ là: '' Lúc Phật chưa chế giới '' hoặc '' Người đã chứng quả A la hán '' hoặc '' bị cưỡng bức mà không có tâm thọ lạc hay bị điên loạn ''. Trường hợp lúc Phật chưa chế giới thì không thể nào xảy ra với chúng ta vì Đức Phật chế giới này sau khi Ngài thành đạo 12 năm. Tính đến nay đã hơn 2500 năm rồi. Chỉ còn lại 2 trường hợp là ''người đã chứng quả vị A la hán'' và ''bị cưỡng bức nhưng không có thọ lạc hoặc bị điên'' . Xin giải thích rằng điên loạn ở đây tức là không còn biết gì xung quanh, không hiểu dâm dục là gì, không vui thích khi làm việc dâm dục, khi tỉnh lại không còn nhớ gì thì tính là không phạm giới. Riêng bị cưỡng bức, trong Luật nói cũng nói rất rõ nếu toàn bộ trong thời gian bị cưỡng bức đó hoàn toàn '' không có tâm thọ lạc, vui thích '' mà cảm giác như bị tra tấn hành hạ thì mới tính là không phạm giới. Còn nếu bị cưỡng bức mà trong lúc đó có tâm vui thích ( dù nói ra hay không nói) thì cũng phạm. Với trường hợp đã chứng A la hán sẽ không phạm. Tại sao? Vì nếu đã chứng quả thiệt thì người đó không còn ái dục, tham muốn, phiền não...cho nên thường những lúc họ làm việc dâm dục ( vì lý do bất đắc dĩ nào đó để độ chúng sanh) họ không sanh tâm ái nhiễm, vui thích. Trường hợp này tương tự như việc bị cưỡng bức mà không thọ lạc nhưng khác một chút là A la hán chủ động để độ chúng sanh, còn phàm phu là bị động nhưng vẫn giữ được tâm trong sạch. Chỗ này cũng là đoạn rắc rối nhất đây, người gian trá họ xem ngoại lệ này như một lỗ hổng lớn để lợi dụng mà chối tội. Do thời nay không sao biết được ai Thánh ai phàm cho nên nói gì cũng xong. Miễn sao ngọt lỗ tai, êm dịu, ma mị một chút là người ta tin sái cổ. Nhất là tự xưng mình thuộc hàng Thánh Tăng( giống như người bị cáo buột kia). Thí dụ như họ nói: tôi chứng thiền này, pháp nọ, mật giáo kia...Tôi là ông Tổ nọ, bồ tát kia, Phật đó...hiện thân để độ đời. Chỗ này nếu ai nghe mà không tỉnh táo là lạc vào ma trận ngay. Khi niềm tin vào Tam Bảo đã dồn hết vào một cá nhân phàm phu chuyên lừa gạt, dối trá thì cũng là lúc nguồn cơn các việc sai quấy hình thành. Các tà sư đó sẽ lý luận viễn vông, hoang đường để khai thác lợi ích từ những tín đồ đã u mê vào tròng. Chẳng hạn, họ nói đời trước từng là vợ chồng với cô A, Chị B, em C...bằng những tuồng tích như hai người từng là Vua và Hoàng Hậu, hai người yêu nhau nhưng không thành, hai người là Tiên trên trời nhưng bị đọa...Còn muốn tiền của thì họ có thể nói, thấy nhà ông Hai, bà Ba, chú Tư...nào đó có oan gia, âm binh theo phá, hay đời trước giật nợ, cướp của...nên giờ sắp chết, Diêm Vương đang sai quỷ lên bắt...muốn tránh thì chi tiền, bán của đem đưa họ đi cúng bái, từ thiện...cho. Tất nhiên là các nạn nhân lúc này sẽ tin và làm theo tuyệt đối như một cổ máy bị bấm nút điều khiển. Thật nguy hiểm, chỉ một vỏ bọc ngụy trang mang danh ''Thánh Tăng ''mà gây bao tai hại cho chúng sanh.
Trong điều giới căn bản của người tu sĩ ( Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni) nếu tự xưng chứng Thánh trong khi biết rõ mình là phàm phu ( cố tình nói dối để gạt người khác vì lợi ích) thì phạm tội cực ác và mất tư cách người tu sĩ ( điều này ngang với tội cố ý dâm dục). Cho nên các hàng '' ngụy Thánh Tăng '' này cũng nguy hiểm vô cùng.
Nước ta ( Việt Nam) từ trước nay hiếm có trường hợp đó. Vì dù người tu sĩ nào có tự xưng Thánh Tăng để gạt người cũng không ai tin. Trong trường Luật ngày xưa học Luật tới giới này thì cả vị Tuyên Luật sư và Tăng, Ni sinh đều cười. Vì đại chúng không ai nghĩ thời này còn có '' ngụy Thánh Tăng '' xuất hiện. Chỉ trong mấy vùng xa xôi, hẻo lánh có ông đồng, bà cốt xác cậu hồn cô nào đó '' ứng '' lên rồi múa tay, quơ chân xưng Ta là Tề Thiên, Bát giới, Hằng nga...hay đạo cóc, đạo xoài nào thì không kể tới. Chứ Phật giáo tuyệt nhiên không có tự xưng Thánh Tăng.
Nhưng hơn mười năm trở lại đến hiện nay ( 2026) có một tình trạng đáng báo động đến mức nguy hại cho sự tồn vong của Phật giáo nhưng lại bị Tăng, Ni tín đồ chúng ta ngó lơ, đôi khi còn tiếp tay.
Rất nhiều '' Thánh Tăng '' xuất hiện. Nào là: chứng đắc lục thông, thấy quá khứ vị lai, kiếp trước là bồ tát nay hiện lại độ đời...không đếm hết. Tất nhiên là truyền thống Phật giáo nước ta không chấp nhận chuyện '' Thánh Tăng mọc như nấm '' kiểu đó.
Người ta khéo léo, lươn lẹo bằng cách viện dẫn những truyền thống Phật giáo nước khác. Họ sẽ nói rằng nước nọ, nước kia có bồ tát thị hiện, Thánh Tăng tái sinh...tại sao nước mình lại không có được chứ? Mà có thì ở đâu? Thầy A, thầy B...kia là Thánh chứ đâu. Những Thánh Tăng hình thành do '' lăng - xê '' dạng này thường đeo một '' lá bùa hộ mệnh '' chính là những Pháp môn xa lạ với Phật giáo nước nhà. Thường là thuộc các nước Phật giáo khác. Nhờ '' lá bùa hộ mệnh '' này mà các '' Thánh Tăng '' dễ ăn, dễ nói còn tín đồ nhẹ dạ cũng dễ tin, dễ nghe. Lúc này thầy ( Thánh Tăng giả) sẽ lý luận rằng, sư tu pháp đó của nước đó nên ngộ ra được mình là Thánh Tăng, Bồ tát...giống như chư vị Thánh Tăng ở nước đó. Thế là xong, tín đồ '' tiền hô, hậu ủng '' ca tụng, truyền rao. Một đồn mười, mười đồn trăm. Từ đó vô số nạn nhân sập bẫy '' ngụy Thánh Tăng ''. Nghiệt ngã hơn nữa là đôi khi các tín đồ bị lừa gạt xong, khi phát hiện ra lại mất hết niềm tin vào Tam Bảo cùng các bậc bồ tát, Thánh hiền. Vì họ vẫn còn ôm tâm lý kẻ tà sư gạt họ là Thánh Tăng, bồ tát. Thật là tội lỗi trùng trùng.
'' Không phải bậc Hiền chớ thân cận, không phải bậc Thánh chớ tôn sùng '' đó là lời dạy nằm lòng cho hàng căn cơ tu học còn yếu kém như chúng ta dù xuất gia hay tại gia. Phải vận dụng trí tuệ sáng suốt khi đặt niềm tin vào một cá nhân nào đó. Chính Đức Phật còn dạy cho ta phải tư duy, chiêm nghiệm những lời dạy của Ngài trước khi áp dụng thực hành mà. Vậy tại sao mình mù quáng tin theo sự mồi chài, dẫn lối của người khác để biến thành nạn nhân cho kẻ xấu, đánh mất duyên lành nơi Tam Bảo. Hiền Thánh Tăng luôn hiện hữu trong đời, chúng ta đừng tìm quý Ngài ấy phí công mà hãy cung kính mười phương Tăng Bảo vì '' trong cát sẽ có lẫn vàng, trong số phàm Tăng vẫn sẽ có Thánh Tăng thị hiện đó thôi ''







Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét