Luật Gia. Liz Quiehui có tên thật là Hoàng Quốc Huy, tên phiên âm là Lý Thu Tuệ

Blog

Main Ad ➤ Click "VÀO ĐÂY" Doanh nhân và Thương hiệu ASEAN luôn cập nhật

Một vị Tăng cần phải uyên thâm giới luật

 Đối với một vị Tăng (nhà Sư), điều đầu tiên và quan trọng nhất cần nắm vững không phải là kinh điển, nghi lễ hay phép thuật, mà là Giới – Định – Tuệ, đặc biệt là Giới luật.



Cụ thể:


1. 🪷 Giữ Giới — nền tảng đầu tiên


Giới là hàng rào bảo hộ tâm, giúp ngăn ngừa lỗi lầm thân – khẩu – ý.

Không giữ giới thì không thể có định; không có định thì trí tuệ không phát sinh.


Đức Phật dạy: “Giới là mẹ sinh ra các công đức.


2. 🕊️ Tu Định — an trú tâm


Khi giữ giới thanh tịnh, tâm an ổn, không phóng dật, dễ đạt định.

Định giúp nhà Sư phát triển nội lực, không dao động trước khen chê, được mất.


3. 💎 Phát Tuệ — hiểu rõ chân lý


Tuệ là sự thấy biết đúng đắn về vô thường, khổ, vô ngã.

Có trí tuệ, nhà Sư mới biết hướng dẫn Phật tử và tự mình thoát khổ.


Tóm lại:


> “Sư mà không nắm vững Giới – Định – Tuệ thì chỉ là hình tướng tu hành, chưa phải là người tu thật.”

Nếu nói ngắn gọn:


> Điều đầu tiên nhà Sư cần nắm vững là Giới luật.

Vì Giới là nền, Định là thân, Tuệ là quả.


Share:

Tiểu Sử Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Tịnh 1932-2025

I. THÂN THẾ


Trưởng lão Hòa thượng Thích Trí Tịnh, thế danh Lâm Đình Đào, sinh năm 1932 (Nhâm Thân) tại Nam Định, nay là tỉnh Ninh Bình. Thân phụ là cụ ông Lâm Văn Trầm, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Nga. Hòa thượng là người con thứ ba trong gia đình có năm anh em: ba trai hai gái. Thiếu thời, Hòa thượng theo học tiểu học tại trường Trưng Vương, thành phố Nam Định. Giáo sư Vũ Khiêu từng là thầy dạy học của Hòa thượng tại ngôi trường này. Khi thân phụ không còn làm thông phán tại Tòa Đốc lý tỉnh Nam Định, Hòa thượng theo gia đình về Hà Nội và sinh sống tại nhà số 37, phố Đinh Tiên Hoàng.



II. XUẤT GIA TU HỌC


Khi còn ở Nam Định, Hòa thượng luôn được bà ngoại dẫn đi lễ Phật, nghe kinh tại chùa Cổ Lễ, chùa Cả,v.v... Nhờ vậy hạt giống bồ-đề chớm nở, chí nguyện xuất trần thôi thúc. Sau nhiều lần xin phép xuất gia nhưng chưa được song thân chấp thuận, đến năm 1942 khi 11 tuổi, Hòa thượng viết thư để lại nhà, ra đi tìm đến chùa Tây Phương, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây (nay là Thành phố Hà Nội) xin xuất gia và thờ Sư Tổ Thích Thanh Khánh[1] làm Hòa thượng nghiệp sư. 


Sau đó, Hòa thượng theo Sư Tổ Thanh Khánh về chùa Linh Sơn ở Sơn Tây cũ và tại đây, vào năm 1948 Hòa thượng được Sư Tổ truyền trao giới Sa-di, được ban pháp danh Trí Kính. 


Năm 1949, Hòa Thượng được nghiệp sư cho đi tham học tại chùa Quán Sứ, Hà Nội. Đồng học với Ngài còn có các vị như Trưởng lão Hòa thượng Thích Thanh Huấn, sau này là Trưởng ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành phố Hải Phòng; Hòa thượng Thanh Đốc; Hòa thượng Thích Nhật Tân, chùa Quả Linh (chùa Gạo, Vụ Bản, tỉnh Nam Định)... Trong thời gian này, Hòa thượng trọ học tại các chùa Thiên Quang (tức chùa Hòa Mã), Trấn Quốc, Di Đà,...ở Hà Nội.


Năm 1951, tại chùa Liên Hoa (Khâm Thiên, Thành phố Hà Nội), Hòa thượng được Sư Tổ cho thọ giới Tỳ-khưu và được ban pháp hiệu Trí Tịnh. Hội đồng Giới sư gồm: Sư Tổ Thích Mật Ứng, Thiền gia Pháp chủ, Trụ trì chùa Quảng Bá; Sư Tổ Thích Tâm Huy, Trụ trì chùa Hòe Nhai; Sư Tổ Thích Vĩnh Tường, Trụ trì chùa Thần Quang (Ngũ Xá); Sư Tổ Thích Mật Đắc, đương gia chùa Quán Sứ;... Cùng thọ Tỳ-khưu với Hòa thượng trong đàn giới này có Trưởng lão Hòa thượng Thích Đức Nghiệp hiện là Phó Pháp chủ Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Cố Hòa thượng Thích Quảng Thiệp (1928-1998), v.v... 


Năm 1953, sau khi rời nhà đi xuất gia được 11 năm, Hòa thượng mới trở về nhà thăm song thân để lễ tạ thâm ân sinh thành dưỡng dục.


Từ năm 1950 đến năm 1954, tại chùa Tàu (Phổ Giác tự), Hòa thượng được thị giả Tổ Thích Đức Nhuận (1897-1993) sau  này là Đệ nhất Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Thời gian này, Hòa thượng tham gia các phong trào Phật giáo Cứu Quốc đương thời như  cứu đói người nghèo, đón các đoàn khách quốc tế, tham gia các cuộc họp về đoàn thể tại Hội trường nhà hát Nhân dân (gần chùa Quán Sứ), v.v...


III. HAI LẦN THỌ NẠN


Năm 1954, hòa bình lập lại, sau khi Chính quyền Cách mạng tiếp quản Thủ đô, nhân dân chùa làng Hòa Quốc Công ở tỉnh Hưng Yên lên thỉnh Hòa thượng về trụ trì chùa. Tổ Đức Nhuận cho cụ Giá đi cùng để phụ giúp chức việc đương gia. Tại đây, Hòa thượng thọ nạn, từ năm 1956 đến năm 1958 bị buộc tu độc cư tại một địa điểm kín đáo bên hồ bán nguyệt tỉnh Hưng Yên. Sau hai năm thọ nạn, Hòa thượng được nhân dân Phật tử rước về trụ trì chùa làng. 


Năm 1958, nhân tuần 49 của Tổ Tế Xuyên, tại chốn Tổ Tế Xuyên, Hòa thượng được Tổ Cao Đà truyền trao giới Bồ-tát. Từ đây, Hòa thượng lại phát tâm dũng mãnh hơn trên con đường hoằng dương chánh pháp. 


Từ năm 1959 tuy bị chiến tranh tàn phá khốc liệt nhưng Hòa thượng vẫn thường xuyên đi lại để trông nom chùa Bảo Sái trên núi Yên Tử. Năm 1969 khi hay tin Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần, Hòa thượng đã cùng các anh em bộ đội đang trực đài ra đa gần chùa Bảo Sái tổ chức lễ cầu siêu tiễn đưa anh linh Bác Hồ về với thế giới người hiền.


Năm 1963, khi nhận thấy không thể dấn thân trên con đường ‘kiêm thiện thiên hạ’, Hòa thượng chọn con đường ‘độc thiện kỳ thân’, trở về quê ngoại, dựng am Linh Ẩn trên mảnh đất hương hỏa của tổ tiên ở Thượng Lỗi (nay thuộc phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định) hàng ngày tu tập. Thời gian này Tổ Trí Hải và Tổ Tố Liên có đến thăm và khích lệ ngài kiên cố bồ-đề tâm trên con đường phụng sự chúng sinh. 


Năm 1975 ngài lại thọ nạn lần thứ hai. Hòa thượng tiếp tục con đường tu hành của mình theo Bồ-tát đạo trong mọi hoàn cảnh. Ban đêm tụng kinh niệm Phật, ban ngày phát thuốc chữa bệnh cho mọi người trải qua các trại: Mễ Sở (tỉnh Hà Nam năm 1975-1976), Cẩm Thủy (tỉnh Thanh Hóa năm 1976-1977) và Thanh Phong (huyện Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa năm 1978-1984). Dù ở đâu, Hòa thượng vẫn giữ vững chí nguyện xuất trần thượng sĩ, không hề thối thất tâm nguyện độ sanh của Bồ-tát hạnh. Trong hoàn cảnh đó, Hòa thượng đã hướng đạo, dẫn dắt không biết bao nhiêu con người lầm đường lạc lối quay về nẻo chân, thiện, mỹ. Âu cũng là ‘chư Phật bổ xứ’.


IV. HÓA ĐẠO PHƯƠNG NAM


Năm 1984, ngài chống tích trượng về miền đất mới phương Nam. Thời gian đầu Hòa thượng lưu trú tại chùa Nam Thiên Nhất Trụ (Thủ Đức) và chùa An Lạc (Quận I, TP. Hồ Chí Minh) để hành đạo.


Năm 1988, với ba y một bình bát, Hòa thượng lại tiếp tục cuộc đăng trình. Dường như đã đến lúc đất chọn người, Hòa thượng tìm được thế đất ‘địa khả cư’ tại núi Tao Phùng, thành phố Vũng Tàu nên dựng tạm thảo am nơi đây, bằng lòng với cuộc sống ‘cô thân chích ảnh’ giữa núi rừng thanh sơn mạn thảo. Từ thảo am năm nào, nay ngôi phạm vũ Linh Phong Thiền uyển đã được hình thành trang nghiêm, tố hảo. 


Nhân duyên hội ngộ, năm 2007 Tập đoàn Sungroup thành tâm cung thỉnh Hòa thượng chứng minh, cố vấn các công trình tâm linh của Tập đoàn. Hòa thượng đã tư vấn Tập đoàn xây dựng các danh lam tại những thắng cảnh của Tập đoàn như Linh Phong Thiền tự tại khu du lịch Bà Nà Hills, thành phố Đà Nẵng; Bảo An Thiền tự (chùa Trình), Bích Vân Thiền tự (chùa Hạ) và Kim Sơn Bảo Thắng tự (chùa Thượng) tại thị trấn Sapa, tỉnh Lào Cai; quần thể tâm linh Bảo Hải Linh Thông tự nằm trong tổ hợp Sun World Halong Complex thuộc phường Bãi Cháy, Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh,v.v...


Ngoài việc ứng phó đạo tràng, xây chùa tu phúc,  Hòa thượng còn khai tràng thuyết pháp tại các trường Hạ cũng như chứng đàn truyền giới, tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức.


Với hạnh nguyện cao cả vì Đạo pháp, năm 2012, tại Đại hội Phật giáo toàn quốc lần thứ VII, Hòa Thượng được suy cử làm thành viên Hội đồng chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam. 


Năm 2017, tại Đại hội Phật giáo toàn quốc lần thứ VIII, Hòa Thượng được suy tôn lên ngôi vị Phó Pháp chủ Hội đồng chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam. 


V. CÔNG VIÊN QUẢ MÃN


Với tình pháp lữ Linh sơn, Hòa thượng đã ấn tống, tái bản nhiều trước tác của Tổ Tố Liên, Tổ Trí Hải. Hòa thượng đã biên soạn khoa cúng đức Đệ tam Pháp chủ, Đại lão Hòa thượng Thích Phổ Tuệ. Ngoài ra, Ngài còn để lại rất nhiều thi kệ cũng như tán vịnh bằng Hán văn cũng như Việt văn. Hiểu rõ sắc thân là giả tạm, Hòa thượng đã chuẩn bị tư lương ‘quy khứ lai hề’ bằng bài kệ pháp ngữ thị tịch:


“Dưới nước nhìn xem bỗng có trăng

Dưới trăng có nước chuyện lăng xăng

Trăng nước từ xưa thường vẫn thế

Có nước rồi ra phải có trăng”.


Hòa thượng xả bỏ báo thân lúc 04h30 ngày 08 tháng 10 năm 2025 (nhằm ngày 17 tháng 08 năm Ất Tỵ) tại phương trượng Tổ đình Vĩnh Nghiêm, thế thọ: 94 năm, Hạ lạp: 74 tuổi.


Nam mô Việt Nam Phật giáo Giáo hội Phó Pháp chủ, Trung Hậu sơn môn môn trưởng, Vĩnh Nghiêm Tổ đình Chứng minh Đạo sư, Linh Phong Thiền uyển khai sơn, Linh Phong Thiền tự, Bảo An Thiền tự, Bích Vân Thiền tự, Kim Sơn Bảo Thắng tự, Bảo Hải Linh Thông tự chư tự Viện chủ, ma ha Sa-môn Tỳ-khưu Bồ-tát giới pháp húy Thích Trí Tịnh, pháp danh Trí Kính, pháp hiệu Trí Tuệ, Lâm công Trưởng lão Hòa thượng đài tiền chứng giám.


Trung Hậu môn nhân

Vĩnh Nghiêm hậu học

Thích tử Giác Dũng

khể thủ bái thủ


[1] Tổ Thanh Khánh là đệ tử Tổ Thanh Thịnh (ở chùa Thường Lệ). Tổ Thanh Thịnh là anh Tổ Thanh Ất (chùa Trung Hậu). Tổ Thanh Ất là thầy của cụ Bạch Trữ. Cụ Bạch Trữ nuôi Hòa thượng Thanh Kiểm.

Share:

Không phải ai mặc áo tu cũng thật sự tu

 Một số nguyên nhân xã hội và tâm linh dẫn đến việc bạn thấy “nhiều thầy chùa bây giờ nói chuyện, thái độ dễ ghét, không hiền lành từ bi như bậc tu hành xưa”. 

Luật gia Hoàng Huy



1. Không phải ai mặc áo tu cũng thật sự tu


Ngày nay, có người đến với chùa vì miếng cơm, danh lợi, hay sự kính trọng của người đời, chứ không vì tâm tu hành.

Họ có thể biết tụng kinh, giảng đạo, nhưng tâm chưa được gọt giũa, nên dễ nổi sân, dễ nói lời cộc cằn, kiêu ngạo.

Phật từng dạy:


 “Áo cà sa không làm nên vị Tỳ-kheo. Người thật tu là người dập tắt tham – sân – si.”


 2. Xã hội thay đổi – môi trường tu hành cũng bị ảnh hưởng


Ngày xưa, chùa ở nơi thanh tịnh, tu sĩ tránh xa danh lợi.

Bây giờ chùa lại ở ngay giữa phố, tiếp xúc với khách thập phương, tiền bạc, vật chất, truyền thông…

Nếu thiếu định lực, người tu rất dễ bị cuốn vào chuyện đời, mất đi sự nhu hòa vốn có.



3. Tâm người nhìn và cảm nhận cũng bị ảnh hưởng


Đôi khi, người dân đến chùa với nhiều mong cầu (xin lộc, cầu duyên, cầu tài…), mà không hiểu rằng chùa là nơi tu tâm – học đạo.

Nếu thầy không đáp ứng được mong cầu đó, người ta thấy “thầy khó chịu”.

Vì vậy, cảm nhận “dễ ghét” đôi khi cũng phản ánh sự mong đợi của người đời khác với bản chất của đạo.


 4. Cũng còn nhiều vị chân tu lặng lẽ


Mặc dù có những “thầy giả” hoặc người tu chưa đủ đạo hạnh, nhưng vẫn còn rất nhiều vị chân thật tu hành, âm thầm sống giản dị, từ bi, không xuất hiện trên mạng hay báo chí.

Những vị ấy không ồn ào, không gây chú ý, nên người đời dễ quên rằng Phật pháp vẫn còn tồn tại trong những tâm lành ấy.

Tôi chia cho các bạn những dấu hiệu của một vị tu sĩ chân chính, dựa trên lời Phật dạy và kinh nghiệm từ các bậc thiện tri thức xưa. Các bạn đọc kỹ nhé, vì hiểu được điều này sẽ giúp bạn phân biệt người thật tu với người giả tu, không bị thất vọng hay mất lòng tin vào đạo.

 1. Tâm không tham danh – tham lợi

Phật dạy trong Kinh Pháp Cú:

“Không phải vì áo cà sa mà trở nên bậc thánh.

Ai dứt hết tham – sân – si, người ấy mới thật là Sa-môn.”

Một vị chân tu không chạy theo tiền cúng dường, danh tiếng, quyền lực hay số lượng đệ tử.

Họ sống đơn giản, đủ ăn, đủ mặc, không khoe khoang công đức hay phô trương “phép lạ”.

2. Nói năng ôn hòa – có chánh niệm trong từng lời

Người tu thật sự ít nói, nói chậm, nói rõ, nói từ bi.

Không dùng lời cay nghiệt, khinh người, hay khoe mình hiểu đạo.

Phật dạy:


“Lời nói chân thật, nhu hòa, mang lại an vui — đó là lời nói của bậc trí.”


Nếu bạn thấy thầy nào hay la mắng, dễ nổi nóng, hoặc nói lời châm chọc người khác, thì đó là dấu hiệu tâm chưa điều phục.

3. Tâm bình khi bị chỉ trích hoặc bị xúc phạm


Đây là phép thử cao nhất.

Người tu thật khi bị phê bình, oan ức, hay bị xúc phạm vẫn giữ tâm an, không cãi, không hận, mà chỉ mỉm cười.

Phật từng bị mắng nhiếc, nhưng Ngài nói:


 “Ngươi mang quà đến mà ta không nhận, thì quà đó vẫn thuộc về ngươi.”

Còn người giả tu thì chỉ cần đụng nhẹ danh dự là nổi sân ngay.


 4. Không chạy theo mê tín hay phép thuật


Một vị chân tu chỉ dạy người tu tâm, hành thiện, hiểu nhân quả, chứ không khuyến khích tin vào “bùa phép, cầu tài, đổi số mệnh”.

Nếu vị đó nói: “Cúng ta một khoản tiền là giải nghiệp” — thì chắc chắn không phải chánh pháp.


 5. Sống gần gũi, có lòng từ và biết lắng nghe

Người tu đúng pháp luôn khiêm nhường, dù gặp ai cũng chắp tay, cúi đầu, nói lời nhẹ nhàng.

Không phân biệt giàu nghèo, sang hèn.

Tâm họ giống như mặt đất — ai cũng có thể đứng lên được, không hất ai xuống.


Đây là phương pháp xưa kia các thiền sư dùng để quan sát tâm tánh của người tu — không cần nhìn hình tướng hay danh tiếng, mà chỉ dựa vào năng lượng tự nhiên toát ra trong lúc giao tiếp.

Bạn có thể dùng khi gặp bất kỳ ai: thầy chùa, tu sĩ, hay người dạy đạo.


🪷 Cách nhận ra năng lượng hiền hay dữ của người tu (trong 10 phút đầu gặp mặt)


1️⃣ Quan sát ánh mắt


Người thật tu: Ánh mắt hiền, trong, sâu, không liếc ngang liếc dọc, nhìn mà bạn cảm thấy bình yên, như có gì đó mát dịu.


Người chưa tu thật: Ánh mắt láo liên, soi xét, khinh người, hoặc đờ đẫn. Có thể họ nhìn như hiền nhưng lại làm bạn thấy “nặng nề” trong lòng.


Mắt là cửa của tâm. Tâm an thì ánh mắt sáng mà mềm.


2️⃣ Lắng nghe giọng nói


Người tu thật nói nhỏ, đều, có nhịp thở chánh niệm, nghe ấm và rõ ràng, không cố tỏ ra đạo mạo.

Người tu giả thường nói lớn, cộc, khua chữ “Phật pháp” liên tục, đôi khi pha chút kiêu ngạo.

Lời hiền là năng lượng của từ bi.

Lời gắt là dấu hiệu của ngã mạn.

3️⃣ Cảm giác trong lòng bạn khi ngồi gần họ

Nếu là người có đạo hạnh, bạn cảm thấy dễ chịu, nhẹ, muốn ngồi yên, thậm chí không cần họ nói gì.

Nếu là người thiếu tu, bạn thấy mệt, căng, hoặc khó chịu vô cớ, dù họ đang cười hay nói lời đạo lý.

Năng lượng không biết nói dối — tâm sao thì khí trường vậy.


4️⃣ Quan sát cách họ đối xử với người yếu hơn mình


Người thật tu rất dịu dàng với trẻ nhỏ, người nghèo, người vô danh.


Người giả tu chỉ mềm với người có địa vị, còn với kẻ yếu thì lạnh nhạt hoặc khó chịu.


Phật dạy: “Từ bi không phân biệt đối tượng, như mưa rơi đều khắp.”


5️⃣ Xem họ có biết “im lặng” không


Một người có tâm tu thật sự biết dừng lại đúng lúc — không nói quá nhiều, không tranh hơn thua, và có thể ngồi yên trong tĩnh lặng.

Người chưa thật tu không chịu nổi im lặng, phải nói, phải khoe, phải giảng, phải chứng minh mình “hiểu đạo”.

Share:

Thư mời


 

Share:

Hình ảnh thời Bao cấp

 Đại hội chiến sĩ thi đua 1985, mỗi nữ lao động tiên tiến được thưởng một chiếc lốp xe đạp.

--------------------------

Thời bao cấp, hàng hóa khó mua, cơ quan xí nghiệp thường thưởng cho cán bộ công nhân viên bằng hàng hóa.



Share:

Người sáng tạo ra thần dược trị dịch Kiết lỵ

 Ngày nay, khi nhắc đến tiêu chảy, kiết lỵ, nhiều người dễ coi đó là bệnh “vặt”, so sánh chẳng đáng gì với những căn bệnh nan y như ung thư hay HIV. Thế nhưng, nửa thế kỷ trước, câu chuyện lại hoàn toàn khác: kiết lỵ từng là đại dịch gieo rắc nỗi ám ảnh chết chóc cho cả dân tộc Việt Nam.



Trong bối cảnh đất nước chiến tranh, thiếu thốn đủ bề, thiên tai dồn dập, dịch bệnh hoành hành, người dân – đặc biệt ở miền Bắc – đối mặt với nỗi kinh hoàng: tiêu chảy kéo dài, mất nước, kiệt sức rồi tử vong. Lúc ấy, thuốc Tây khan hiếm, giá đắt đỏ, việc tìm ra một phương thuốc cứu người là bài toán sinh tử của cả dân tộc.


Năm 1970, trước sự lan rộng của dịch lỵ, một cuộc họp khẩn cấp quy tụ các giáo sư, nhà khoa học y – dược hàng đầu được triệu tập. Câu hỏi lớn được đặt ra: Làm thế nào để tự mình sản xuất thuốc trong nước?


Chính lúc ấy, TS Phan Quốc Kinh, khi mới 35 tuổi, đã dõng dạc đứng lên nhận trách nhiệm thay mặt Trường ĐH Y Dược. Khi GS Hồ Đắc Di trăn trở: “Liệu thuốc Việt Nam làm ra có sánh được với thuốc phương Tây không?”, TS Kinh đã khẳng khái trả lời: “Thầy cứ tin ở chúng em. Chúng em hứa sẽ tìm ra thuốc trong thời gian ngắn nhất!”.


Một nhóm nghiên cứu 20 người được lập ra. Các thầy, cô, sinh viên chia nhau đi khắp miền núi, đồng bằng để sưu tầm bài thuốc dân gian của các ông lang, bà mế.


Chỉ trong 10 ngày, hàng trăm bài thuốc được tập hợp. Từ kho tàng trí tuệ dân gian ấy, nhóm đã chọn ra hơn 20 cây thuốc có khả năng chống lại vi sinh vật gây bệnh lỵ. Từng bó cây, từng rễ thuốc từ Sa Pa được mang về phòng thí nghiệm, nơi trí tuệ và ý chí của những con người Việt Nam miệt mài ngày đêm.


Kết quả là hai loại thuốc Codanxit và Berberin clorid ra đời. Ngay sau đó, Bộ Y tế cho phép sản xuất hàng loạt, nhanh chóng đưa đến tay người bệnh. Và kỳ tích đã xảy ra: dịch lỵ ở miền Bắc được dập tắt.


Không chỉ cứu hàng vạn sinh mạng trong nước, thành tựu này còn đưa tên tuổi y học Việt Nam ra trường quốc tế. Trong một báo cáo tại ĐH Hoàng đế London (Anh), TS Phan Quốc Kinh kể lại việc dập dịch lỵ chỉ với loại thuốc bào chế từ cây cỏ Việt Nam. Cả hội nghị ngỡ ngàng: với chỉ 1 USD thời đó, có thể mua cả nghìn viên Berberin – rẻ, hiệu quả, an toàn, trong khi thuốc Tây đắt gấp hàng chục lần.


Thế giới phải cúi đầu thán phục: từ một đất nước nghèo khó, bị chiến tranh tàn phá, Việt Nam đã làm nên kỳ tích – sáng tạo ra loại “thần dược” không chỉ cứu dân tộc mình mà còn đóng góp cho nhân loại.


TS Phan Quốc Kinh – người tiên phong mở đường cho chiến thắng ấy – đã rời cõi tạm vào ngày 16/8/2019, hưởng thọ 82 tuổi. Nhưng tên tuổi ông cùng kì tích Berberin vẫn sáng mãi.

#VNW

Share:

CÂU CHUYỆN GIOAN TẨY GIẢ – NGƯỜI DỌN ĐƯỜNG CHO CHÚA

Lời hứa trong tuổi già

Tại vùng Giu-đê xưa, có một cặp vợ chồng đạo đức: ông Dacaria và bà Êlisabét.



Họ đã lớn tuổi mà chưa có con. Một ngày kia, khi ông Dacaria đang dâng hương trong Đền Thờ, Thiên thần Gabriel hiện ra và nói:

“Ông sẽ có một con trai, đặt tên là Gioan.

Em bé ấy sẽ được tràn đầy Thánh Thần và dọn đường cho Đấng Cứu Thế.”

Ông Dacaria không tin vì tuổi đã cao, nên bị câm cho đến khi lời hứa được ứng nghiệm.



 Sự ra đời kỳ diệu

Bà Êlisabét mang thai, và Đức Maria (mẹ Chúa Giêsu) đến thăm bà. Khi Maria vừa chào, thai nhi Gioan nhảy mừng trong lòng mẹ — dấu hiệu cho thấy cậu bé được Chúa chọn từ trước khi sinh ra.

Khi Gioan chào đời, lưỡi ông Dacaria được mở ra, và ông ca tụng Thiên Chúa.

 Tuổi trẻ trong hoang địa

Khi lớn lên, Gioan rời bỏ cuộc sống thành thị, vào sống trong sa mạc.

Ông mặc áo bằng lông lạc đà, ăn châu chấu và mật ong rừng.

Ông sống đơn sơ, khổ hạnh, chỉ chuyên cầu nguyện.

Thiên Chúa sai ông đến sông Giođan để rao giảng và làm phép rửa cho dân chúng – kêu gọi họ sám hối:

 “Hãy dọn đường cho Chúa!

Hãy sửa cho ngay thẳng con đường Người đi!”

Người dân khắp nơi kéo đến nghe ông giảng. Ai tin lời ông thì được ông làm phép rửa bằng nước – biểu tượng của lòng ăn năn.

 Cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu

Một ngày kia, Chúa Giêsu đến xin Gioan làm phép rửa.

Ban đầu, Gioan khiêm nhường nói:

 “Chính tôi cần được Ngài rửa, sao Ngài lại đến với tôi?”

Nhưng Chúa đáp:

 “Cứ làm đi, vì chúng ta cần chu toàn mọi điều công chính.”

Khi Gioan làm phép rửa, Trời mở ra, Thánh Thần ngự xuống như chim bồ câu, và có tiếng phán:

“Đây là Con Ta yêu dấu, đẹp lòng Ta mọi đàng.”

Từ đó, sứ vụ của Gioan hoàn tất — ông đã dọn đường cho Chúa đến với dân.

Sự thật và cái chết bi tráng

Vua Hêrôđê Antipas lấy Hêrôđia, vợ của anh trai mình.

Gioan không sợ quyền thế, công khai khiển trách vua:

 “Tâu vua, việc đó không hợp luật Thiên Chúa!”

Hêrôđia căm ghét và tìm cách giết ông.

Một đêm tiệc, con gái của Hêrôđia (Salomê) nhảy múa làm vua Hêrôđê vui lòng, liền hứa cho cô bất cứ điều gì.

Theo lời mẹ xúi, cô nói:

“Xin dâng cho con cái đầu của Gioan Tẩy Giả trên mâm bạc.”

Vì lời hứa trước mặt quan khách, vua buộc phải ra lệnh chém đầu Gioan trong ngục.

Các môn đệ của Gioan đến mang thi hài ông đi chôn cất trong buồn bã và tôn kính.


Di sản của Gioan

Gioan Tẩy Giả là ngôn sứ cuối cùng của Cựu Ước và người đầu tiên chỉ cho thế giới biết Đấng Cứu Thế.

Chính ông đã nói:

 “Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá tội trần gian.”

Chúa Giêsu sau đó nói về ông:

 “Trong số phàm nhân do người nữ sinh ra, không ai cao trọng hơn Gioan Tẩy Giả.”

(Tin Mừng Luca 7:28)

Ý nghĩa hôm nay

Gioan Tẩy Giả là biểu tượng của lòng can đảm, khiêm nhường và trung thành với chân lý — dám nói thật, dám hy sinh vì lẽ phải, và luôn hướng mọi người về Thiên Chúa chứ không về bản thân mình.



Share:

NGÔ CHÂN NHÂN TRUYỆN

 TRUYỆN TU TIÊN: 

(Truyện về Ngô Chân Nhân)

Ngày xưa, ở vùng Hoa Sơn có một đạo sĩ tên thường gọi là Ngô Chân Nhân, pháp lực cao cường, có thể hô phong hoán vũ, sai sử thần binh, phi kiếm hàng yêu, bước đi trên mây gió...thậm chí dùng bùa chú để dời núi lấp biển.Người đời đều kính nể, sợ hãi, xem ông như thần tiên sống và gọi ông là “Đắc Đạo Chân Nhân”.



Một hôm, ông xuống núi đi ngang qua làng, thấy một lão tiều phu nghèo gánh củi, áo rách, chân đất, nhưng gương mặt hiền từ, ánh mắt sáng trong. Đạo sĩ bèn muốn thử tài, liền dùng phép khiến cho dòng suối khô cạn, rồi hỏi: “Ngươi gánh củi cực khổ, chẳng bằng theo ta tu luyện, ta cho ngươi thần thông, muốn nước có nước, muốn lửa có lửa. Như vậy mới thoát cảnh khổ.” Lão tiều phu cười hiền: “Thưa đạo trưởng, tôi tuy nghèo nhưng lòng thanh thản. Nước suối khô, tôi đào giếng; củi nặng, tôi nghỉ rồi đi tiếp. Người sống ở đời quan trọng là tâm không tà, lòng không ác, chứ thần thông nào cứu được cái tâm bất thiện?” Đạo sĩ nghe, vẫn muốn thử. Ông lại niệm chú, khiến mưa gió kéo đến, sấm chớp vang trời, muốn cho lão tiều hoảng sợ. Nhưng kỳ lạ thay, lão tiều vẫn bình thản, chỉ che gánh củi bằng tấm lá chuối, rồi ngồi dưới gốc cây đọc mấy câu hương nguyện dân dã: “Trời có dông thì mưa, người có làm thì ăn. Chỉ xin trời đất thương cho dân lành.” Ngay khoảnh khắc ấy, sấm gió tan biến. Đạo sĩ thở dài, cúi đầu vái lão tiều: “Ta tu mấy mươi năm, thần thông có dư mà tâm vẫn còn vọng, nên thua cái đức của ông. Quả nhiên, đạo tại tâm, không tại pháp.”


Từ đó, vị đạo sĩ lui về núi, bỏ dần tham niệm thần thông, chuyên tâm tu tâm dưỡng tính, bố thí, cứu người. Vài chục năm sau, ông mới thực sự Chứng Đạo, được mọi người tôn kính gọi là Chân Tiên, chính là do nhờ vào sự buông bỏ cái chấp vào phép thuật thần thông vậy.


Share:

Thủ tục nhận tiền trợ cấp mai táng

 Để nhận tiền mai táng phí, quy trình và hồ sơ cần chuẩn bị sẽ tùy thuộc vào đối tượng hưởng trợ cấp. Dưới đây là thông tin chi tiết cho các trường hợp phổ biến.

Luật gia. Hoàng Quốc Huy 



1. Thủ tục mai táng phí cho đối tượng bảo trợ xã hội 


Các đối tượng sau đây sẽ được hỗ trợ chi phí mai táng:

Những người đang nhận trợ cấp xã hội hàng tháng.

Con của người đơn thân nghèo đang nuôi con.

Người từ đủ 80 tuổi trở lên đang nhận trợ cấp tuất bảo hiểm xã hội hàng tháng hoặc các trợ cấp hàng tháng khác.  


Hồ sơ cần chuẩn bị:

Tờ khai đề nghị hỗ trợ chi phí mai táng (theo Mẫu số 04 ban hành kèm theo Nghị định 20/2021).

Bản sao giấy chứng tử.

Bản sao quyết định hoặc danh sách thôi hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp khác của cơ quan có thẩm quyền (áp dụng cho người từ đủ 80 tuổi trở lên).

Quy trình thực hiện:

Cá nhân, đơn vị tổ chức mai táng sẽ chuẩn bị hồ sơ và nộp cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã.

Trong vòng 02 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã sẽ gửi văn bản đề nghị kèm hồ sơ lên Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội.

Trong vòng 03 ngày làm việc kể từ khi nhận được văn bản, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội sẽ xem xét và trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định hỗ trợ chi phí mai táng.  

Mức hỗ trợ: Mức hỗ trợ chi phí mai táng tối thiểu bằng 20 lần mức chuẩn trợ giúp xã hội, tương đương 7,2 triệu đồng.

Thủ tục mai táng phí cho người đóng bảo hiểm xã hội 


Những người sau đây khi qua đời sẽ được nhận trợ cấp mai táng:


Người lao động đang đóng bảo hiểm xã hội hoặc đang bảo lưu thời gian đóng (từ đủ 12 tháng trở lên).

Người lao động chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc trong thời gian điều trị các bệnh này.

Người đang hưởng lương hưu, trợ cấp tai nạn lao động, trợ cấp bệnh nghề nghiệp hàng tháng đã nghỉ việc.

Hồ sơ cần chuẩn bị:

Đối với người đang đóng hoặc bảo lưu BHXH:

Sổ bảo hiểm xã hội.

Bản sao giấy chứng tử, giấy báo tử, trích lục khai tử hoặc quyết định của Tòa án tuyên bố là đã chết.

Tờ khai của thân nhân (Mẫu 09-HSB).

Các giấy tờ liên quan khác tùy trường hợp (biên bản giám định suy giảm khả năng lao động, biên bản điều tra tai nạn lao động, v.v.). 

Đối với người đang hưởng hoặc tạm dừng hưởng lương hưu, trợ cấp:

Bản sao giấy chứng tử, giấy báo tử, trích lục khai tử hoặc quyết định của Tòa án tuyên bố là đã chết.

Tờ khai của thân nhân (Mẫu 09-HSB).

Các giấy tờ liên quan khác tùy trường hợp (biên bản giám định suy giảm khả năng lao động, v.v.).

Quy trình thực hiện:

Nếu người lao động đang đóng BHXH: Trong vòng 90 ngày kể từ ngày mất, thân nhân nộp hồ sơ cho người sử dụng lao động. Người sử dụng lao động có trách nhiệm nộp hồ sơ cho cơ quan bảo hiểm xã hội trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ.

Nếu người bảo lưu thời gian đóng BHXH, người tham gia BHXH tự nguyện, hoặc người đang hưởng lương hưu/trợ cấp: Thân nhân nộp hồ sơ trực tiếp cho cơ quan bảo hiểm xã hội trong vòng 90 ngày kể từ ngày người đó chết.

Thời gian giải quyết: Cơ quan bảo hiểm xã hội sẽ giải quyết chế độ trong tối đa 08 ngày làm việc sau khi nhận đủ hồ sơ.

Mức hưởng: Trợ cấp mai táng sẽ bằng 10 lần mức lương cơ sở tại tháng mà người tham gia bảo hiểm xã hội chết. Theo quy định trước ngày 01/7/2025, mức này là 2.340.000 đồng x 10 = 23.400.000 đồng.


3. Thủ tục liên thông đăng ký khai tử và hưởng chế độ mai táng phí 


Đây là thủ tục kết hợp giữa việc đăng ký khai tử và làm thủ tục hưởng các chế độ tử tuất, bao gồm cả trợ cấp mai táng. Quy trình này có thể có các mốc thời gian giải quyết khác nhau tùy thuộc vào đối tượng cụ thể.  

Thời gian giải quyết: Có thể từ 12 ngày đến 48 ngày, tùy thuộc vào việc đối tượng là người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, hay thuộc các trường hợp đặc biệt khác.

Cách thức thực hiện: Có thể nộp hồ sơ trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính.

Lệ phí: Lệ phí đăng ký khai tử là 5.000 đồng nếu làm quá hạn, miễn lệ phí trong các trường hợp người có công với cách mạng, hộ nghèo, người khuyết tật, hoặc đăng ký đúng hạn. Lệ phí giải quyết hưởng chế độ tử tuất là miễn phí.  

Việc nắm rõ các quy định và chuẩn bị đầy đủ hồ sơ sẽ giúp quá trình nhận tiền mai táng phí diễn ra thuận lợi và nhanh chóng hơn.

Các quy định về mai táng phí đang được cập nhật, đặc biệt là với Luật Bảo hiểm xã hội 2024 có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, hứa hẹn sẽ mang lại những thay đổi quan trọng.


Share:
Main Ad ➤ Click "VÀO ĐÂY" Doanh nhân và Thương hiệu ASEAN luôn cập nhật

Quốc Gia Truy Cập

Flag Counter

Bài đăng nổi bật

Cách đưa Webite lên Index

  Để đưa một website lên Google Index (xuất hiện trên kết quả tìm kiếm), bạn cần thực hiện theo quy trình chuẩn gồm 4 bước chính sau đây. 1....

Bài mới đăng

Flag Counter

Lưu trữ Bài viết

Tổng số lượt xem trang

Ủng Hộ Chúng Tôi

Lưu trữ Blog

Liên hệ Nhà thơ Hoàng Huy

Tên

Email *

Thông báo *

Cho Đặt Banner Quảng cáo

Like Fanpage Phong Thủy để cập nhật các thủ thuật mới nhất mỗi ngày OK Để sau