Luật Gia. Liz Quiehui có tên thật là Hoàng Quốc Huy, tên phiên âm là Lý Thu Tuệ

Blog

Main Ad ➤ Click "VÀO ĐÂY" Doanh nhân và Thương hiệu ASEAN luôn cập nhật

Ngụy Kinh

 Giới chuyên môn Tây Phương dùng chữ APOCRYPHA – KINH ĐIỂN NGỤY TẠO để gọi văn học Phật giáo phát triển ở nhiều khu vực Á châu giả mạo những văn bản Phật giáo có gốc từ Ấn độ. Mớ bong bong của ngụy thư có nhiều nét chung, nhưng chúng không bao giờ thống nhất bằng cùng một kiểu mẫu (style) văn học hay cùng một nội dung.



Kinh điển ngụy tạo (Apocrypha) có đặc điểm chung là một loại văn học, vốn thuộc về các tôn giáo bản xứ, nhưng lại tự cho mình có nguồn gốc hoặc mối liên hệ với Phật giáo Ấn Độ. Điều này đòi hỏi phải đặt ra nhiều mức độ khác nhau về tính hợp chuẩn và độ tin cậy khi tham khảo nội dung của kinh điển.


Một vài kinh ngụy tạo, đặc biệt của Phật giáo Đông Á, mạo nhận nó chính là giáo pháp của Đức Phật – Buddhavacana (Word of the Buddha) tức tự mạo nhận nó là KINH (Sutra). Kinh ngụy tạo đôi khi cũng tự mạo nhận là lời luận giảng về kinh từ một vị thày có tiếng tăm (hoặc có khi cũng vô danh) của Phật giáo Ấn Độ, tức nó tự mạo nhận là LUẬN (Sastra). 


Một số kinh ngụy tạo tuyên bố xuất phát từ tuệ giác của các đấng giác ngộ ở Ấn Độ hoặc là người được truyền thừa tuệ giác đó từ một dòng phái chính thức, ví dụ như trường hợp “các bộ Thánh Thư Quí Báu” (Gterma) của Tây Tạng cho là đã được dấu kín và rồi được khám phá lại bởi những người đủ cơ duyên. 


Một số kinh ngụy tạo được soạn thảo theo văn phong kinh điển kiểu kể chuyện, ví dụ như trường hợp bộ “Tiền thân Đức Phật” (Jataka) của khu vực Đông Nam Á. Như vậy cái phân biệt kinh ngụy tạo với Phật học bản xứ là kinh ngụy tạo luôn tuyên bố hoặc cố ý ám chỉ rằng nó xuất nguồn từ Ấn Độ. Sự tạo ra các văn bản ngụy tạo có mối liên hệ với bản chất của các bộ kinh Phật thật trong từng mỗi truyền thống. Các bộ kinh Trung Quốc hay Tây Tạng có nội dung luôn “để mở” hay “bỏ ngõ” với mục đích cho phép sự tiếp tục thêm vào dễ dàng các bản kinh mới từ Ấn Độ qua nhiều thế kỉ. 


Không còn nghi ngờ gì nữa, một tình huống như vậy đã tạo cảm hứng cho ý muốn tân trang các bản kinh và khích lệ sự sáng tạo ra các bản kinh gọi là kinh ngụy tạo. Kinh Pali của vùng Nam và Nam Á, trái lại đã được “cố định” rất sớm trong lịch sử, điều này khiến khó có thể thêm vào đó những nội dung nào khác.

Xem thêm tại đây: 

https://phattudatviet.blogspot.com/2026/01/nguy-kinh-apocrypha.html?m=1


Share:

Nghị định 340/2025 của Chính phủ có hiệu lực từ ngày 9.2.2026 quy định cụ thể các mức phạt vi phạm hành chính, trong đó có hoạt động ngoại hối.

Đó là một trong những nội dung được đề cập tại Nghị định 340/2025 của Chính phủ có hiệu lực từ ngày 9.2.2026 quy định cụ thể các mức phạt vi phạm hành chính, trong đó có hoạt động ngoại hối.


Nghị định đưa ra các mức phạt tiền tùy theo số ngoại tệ vi phạm. Phạt cảnh cáo đối với mua, bán ngoại tệ giữa cá nhân với nhau, hay tổ chức không được phép thu đổi ngoại tệ mà giá trị giao dịch dưới 1.000 USD (hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương); thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ bằng ngoại tệ có giá trị dưới 1.000 USD (hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương) không đúng quy định của pháp luật. Phạt tiền từ 10 - 20 triệu đồng đối với những hành vi trên nhưng có giá trị từ 1.000 - 10.000 USD hoặc dưới 1.000 USD nhưng tái phạm, vi phạm nhiều lần.



Phạt tiền từ 20 - 30 triệu đồng đối với những hành vi trên có giá trị ngoại tệ từ 10.000 - 100.000 USD. Ngoài ra mức phạt này còn được đưa ra đối với hành vi vi phạm về việc không niêm yết tỷ giá mua, bán ngoại tệ tại địa điểm giao dịch; hình thức, nội dung niêm yết tỷ giá không rõ ràng, gây nhầm lẫn cho khách hàng… 


Số tiền phạt tiền tăng lên từ 80 - 100 triệu đồng khi mua, bán ngoại tệ giữa cá nhân với nhau mà ngoại tệ mua, bán có giá trị từ 100.000 USD trở lên (hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương). Đồng thời mua, bán ngoại tệ tại tổ chức không được phép thu đổi ngoại tệ mà ngoại tệ mua, bán có giá trị từ 100.000 đôla Mỹ trở lên (hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương). Thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ bằng ngoại tệ có giá trị từ 100.000 USD trở lên (hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương) không đúng quy định của pháp luật.


Ngoài các mức phạt về tiền, Nghị định còn đưa ra hình thức xử phạt bổ sung tịch thu ngoại tệ, đồng Việt Nam đối với các hành vi mua bán ngoại tệ giữa các cá nhân, tổ chức không được phép thu đổi ngoại tệ.


Trong lĩnh vực ngoại hối, Nghị định đưa ra mức phạt cao nhất từ 200 – 250 triệu đồng đối với kinh doanh, cung ứng sản phẩm phái sinh về ngoại hối không đúng quy định; xuất khẩu, nhập khẩu ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam tiền mặt không đúng quy định…


Theo: Thanh Niên.

Share:

HÌNH TƯỢNG ĐẠO SĨ TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM

 Đạo giáo trong tiến trình lịch sử văn hoá Việt Nam không chỉ hiện diện qua kinh điển hay khoa nghi, mà còn thông qua các cuộc đời của đạo sĩ, đạo nhân. Họ được xem là những người kết nối giữa tri thức tôn giáo và tín ngưỡng dân gian; khát vọng trường sinh và lý tưởng cứu độ.



Triều Đinh, “Đại Việt Sử Ký Toàn Thư” chép lại, năm Tân Mùi, tức năm Thái Bình thứ hai (971), đạo sĩ Đặng Huyền Quang được ban chức vị Sùng Chân Uy Nghi. Lần đầu tiên trong lịch sử, Đạo giáo được chính thức định chế hóa vào bộ máy nhà nước phong kiến, giữa những bậc quốc trụ như Định Quốc Công Nguyễn Bặc, Đô Hộ Phủ Sĩ Sư Lưu Cơ, Thập Đạo Tướng Quân Lê Hoàn và Khuông Việt đại sư. Đây là cột mốc khẳng định Đạo giáo không còn là những mảnh ghép tản mạn trong dân gian mà đã trở thành một hệ tư tưởng song hành cùng Phật giáo và Nho giáo, góp phần xây dựng nền tảng quản trị quốc gia sơ khởi.


Triều nhà Lý, Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) đồng thời phát triển, dung hoà và tác động dưới chủ trương “Tam giáo đồng nguyên”. Trong số các đạo sĩ, có những gương mặt nổi bật còn được sử sách ghi lại như: đạo sĩ Trần Tuệ Long (Quán Nam Nhạc) nhận áo ngự ban năm 1027, biểu trưng cho sự trân trọng của quân vương đối với giới tu đạo; Trí Không (1031) là người đặt nền móng quản lý nhân sự Đạo giáo khi tâu xin chế độ “ký lục” tại cung Thái Thanh, giúp chính quy hóa việc tu hành. Ngoài ra còn có Phùng Tá Khang, cha Phùng Tá Chu, làm chức Tả Nhai Đạo Lục, tước Tả Lang. Thời bấy giờ, vương hầu bổ quan tăng nhân, đạo sĩ gọi là Tả Nhai. Có thể hiểu, Tả Nhai là phẩm cao nhất của tăng nhân và đạo sĩ. 


Đặc biệt, dưới triều Lý Nhân Tông, Giác Hải thiền sư và Thông Huyền đạo nhân là hai người được vua trọng vọng. Trong bài “Tán Giác Hải thiền sư, Thông Huyền đạo nhân”, vua Lý Nhân Tông ca ngợi: "Thần thông kiêm biến hóa; Nhất Phật, nhất Thần tiên”. Hình ảnh Thông Huyền đạo nhân cùng thiền sư Giác Hải hầu chuyện nhà vua trên tảng đá cổ, dùng thần chú điều phục linh vật, đã trở thành biểu tượng tuyệt đẹp cho tinh thần hòa hợp tôn giáo thời Lý.

Dưới thời Trần, tranh vẽ “Trúc Lâm Đại Sĩ Xuất Sơn Đồ”, có bài dẫn của Trần Quang Chỉ nói: “Có đạo sĩ Trung Quốc là Lâm Thời Vũ, tháp tùng Đại Sĩ, thăm thú các nơi, có lúc viễn du, giáo hoá, tế độ nước láng giềng”. Lại có bài ký của DƯ Đỉnh rằng: “Nay bức hoạ miêu tả lúc ông [Trần Nhân Tông] từ động Vũ Lâm xuất du. Đại sĩ ngồi trên cáng, các tuỳ tùng khoác áo tăng. Voi trắng chở kinh đi sau cùng. Phía trước voi có người đội hoàng quan, cưỡi trâu, ấy là đạo sĩ Lâm Thời Vũ”. 


Một đạo sĩ khác là Huyền Vân, người Chí Linh, sống ẩn ở chùa Lệ Kỳ, Ngao Sơn để luyện đan. “Đại Việt Sử Ký Toàn Thư” có ghi chép về sự kiện Dụ Tông hoàng đế mời đạo sĩ ở núi Yên Tử về kinh thành hỏi phép tu luyện: “Mùa đông, tháng 10 [năm 1368], cho mời đạo sĩ Huyền Vân ở núi Chí Linh đến kinh để hỏi về phép tu luyện. Ban cho động của đạo sĩ tên là Huyền Thanh động”.


Lại có đạo sĩ Hứa Tông Đạo, người làng Hải Đàn, hương Thái Bình, huyện Phúc Thanh, Phúc Châu, lộ Phúc Kiến, nước Tống, chưa rõ năm sinh năm mất, đến lập nghiệp ở Đại Việt vào đời Trần Thái Tông. “Đại Việt Sử Ký Toàn Thư” có ghi: “[Năm 1302] bấy giờ có người đạo sĩ phương Bắc là Hứa Tông Đạo theo thuyền buôn sang ta, cho ở bến sông Yên Hoa. Phép phù thủy đàn chay bắt đầu thịnh hành từ đó”. Ông được Trần Nhật Duật thu dùng làm môn khách và thường cùng đàm đạo về Đạo giáo. Năm 1285, quân Nguyên Mông đánh xuống Đại Việt lần thứ hai, Hứa Tông Đạo đã cắt tóc ăn thề cùng sinh tử với Trần Nhật Duật, sau đó ông tham gia chiến trận, và theo Đại Việt sử ký toàn thư, trong chiến công của Trần Nhật Duật đã có phần đóng góp đáng kể của đạo quân người Tống do Hứa Tông Đạo tổ chức. Sau ngày chiến thắng, Tông Đạo lại trở về với công việc của đạo, ông được giao thừa hành những việc đúc chuông, xây quán, sao chép kinh kệ... Các hoàng thân, công chúa nhà Trần thường góp tiền, vàng, ruộng đất cho các công việc đó của ông. Năm 1321, Tông Đạo đúc quả chuông cho cung Thái Thanh ở quán Thông Thánh, Bạch Hạc và viết bài ký sự thuật lại việc này.

Cuối triều Tây Sơn, sau khi vua Quang Trung mất năm 1792, vua Cảnh Thịnh lên ngôi còn nhỏ tuổi, quyền hành rơi vào tay Bùi Đắc Tuyên. Sự chuyên quyền đã đày quân sư Trần Văn Kỷ làm lính thú, đến Hoàng Giang thì gặp Vũ Văn Dũng từ Bắc trở về Phú Xuân bèn cùng bàn mưu. Vũ Văn Dũng đem quân về giết cha con Bùi Đắc Tuyên và tướng Ngô Văn Sở, nhưng tướng Trần Quang Diệu và tướng Vũ Văn Dũng kình địch nhau. Phan Huy Ích theo lệnh vua Cảnh Thịnh viết chiếu giảng hoà hai phe, sau đó từ 1796, Phan Huy Ích lui về Bích Câu, thành Thăng Long mở Bảo Chân Quán, xưng là Bảo Chân đạo nhân. Trong lời tựa cho "Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh", Phan Huy Ích thể hiện là người thông tuệ cả Tam giáo. Phan Huy Ích có tập thơ “Cúc Thu Bách Vịnh” gồm 50 bài thơ Đường luật không đề tựa. Phan Huy Ích viết những lời nguyên dẫn từng bài thơ. Trong đó có những nội dung thể hiện cuộc trao đổi của Phan Huy Ích và Ngô Thì Nhậm (Hải Lượng thiền sư). Điều này cho thấy mối tương giao tốt đẹp giữa hai nhà tư tưởng lớn Việt Nam.


Từ những mảnh ghép lịch sử trải dài qua nhiều thế kỷ, có thể nhận thấy Đạo giáo ở Việt Nam không hiện diện như một dòng chảy biệt lập, mà luôn vận động trong thế đối thoại, tiếp biến và dung hòa với các truyền thống tư tưởng khác. Hình ảnh các đạo sĩ trong lịch sử đã cho thấy Đạo giáo không chỉ trú ngụ trong núi rừng hay đạo quán, mà còn thấm vào chính mạch vận hành của lịch sử, chính trị và văn hóa dân tộc. Trong bối cảnh ấy, đạo sĩ vừa là người tìm cầu tiêu dao, vừa là trí thức nhập thế, tham dự vào việc trị quốc, an dân, giáo hóa và chữa trị những khủng hoảng tinh thần của thời đại. Sự linh hoạt ấy làm nên bản sắc riêng của Đạo giáo Việt Nam: không cực đoan, không khép kín, mà cởi mở, uyển chuyển, sẵn sàng trở thành “cầu nối” giữa Nho giáo và Phật giáo, giữa lý tưởng trường sinh và khát vọng đắc Đạo.

Share:

Tài ứng khẩu của Bác

 🌸🌸KỂ CHUYỆN BÁC HỒ:

"TÀI ỨNG KHẨU CỦA BÁC"

Bác là một lãnh tụ, nhưng rất hòa mình với nhân dân, bằng sự kết hợp hài hòa giữa tác phong quần chúng, những lời nói bình dị, dễ hiểu và khả năng gây cười, sự dí dỏm tự nhiên. Phản xạ, ứng đáp nhanh nhạy trước mọi tình huống. Bác có nét đặc trưng riêng, đã trở thành thói quen phù hợp với từng đối tượng tiếp nhận, thích ứng đối với mọi hoàn cảnh xung quanh. Đó là kết quả của một trí tuệ mẫn tiệp, của thái độ, phong cách quần chúng. Bác luôn tạo nên một không khí hòa đồng, một mối liên hệ gần gũi giữa người nói, người nghe, xóa đi những cách biệt, những suy nghĩ tự ti của người dân trước lãnh tụ và đưa lại không khí tự nhiên vốn có giữa con người với con người. Nó không chỉ dừng lại ở nghệ thuật ứng xử mà là phản xạ tự nhiên của lãnh tụ rất nhân dân.



Một lần tại bữa tiệc do Hầu Chí Minh (người góp phần đưa Bác ra khỏi nhà tù của Tưởng Giới Thạch), Chủ nhiệm Cục Chính trị đệ tứ chiến khu chiêu đãi, hôm đó có Bác và Nguyễn Hải Thần cùng dự. Nguyễn Hải Thần rất tự phụ về vốn Hán học của mình và nhân dịp này đã ra một vế đối:


"Hầu Chí Minh - Hồ Chí Minh, lưỡng vị đồng chí, chí giai minh"


(Hầu Chí Minh - Hồ Chí Minh, hai vị đồng chí, chí đều sáng).


Khi mọi người còn đang nghĩ vế đáp, thì Bác ứng khẩu:


"Nhĩ cách mệnh ngã cách mệnh, đại gia cách mệnh, mệnh tất cách"


(Anh cách mạng tôi cách mạng, mọi người cách mạng, mạng phải cách).


Chỗ khó và hay của vế đối là hai chữ "chí" và "minh" là tên của hai nhân vật chính trong bữa tiệc, cái tài tình trong và đáp của Bác là vừa kịp thời, hợp cảnh vật chuẩn chỉnh cả ý lẫn từ, nhưng nâng tầm nhận thức, tư tưởng cao hơn, mang tính cách mạng hơn. Hầu Chí Minh hết lời ca ngợi người đối đáp "đối tuyệt lắm, tuyệt lắm". Nguyễn Hải Thần cung kính thốt lên: "Hồ tiên sinh, tài trí mẫn tiệp, bội phục, bội phục".


Năm 1946, Bác sang Pháp, người phụ trách làm hộ chiếu xin phép Bác làm thủ tục, Bác vui vẻ nói: "Chú cứ hỏi, Bác trả lời đầy đủ". Đến câu thân sinh Bác là gì? Bác cười, trả lời hóm hỉnh: "Bác là Hồ Chí Minh thì ông cụ thân sinh là... Hồ Chí Thông". Mọi người nhìn nhau cười vui vẻ.


Một lần có nhà báo nước ngoài hỏi Bác: "Có phải Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc không?". Bác trả lời: "Ông cứ đến ông Nguyễn Ái Quốc mà hỏi".


Lần khác, nhà báo nước ngoài xin phỏng vấn Bác, ông ta đặt câu hỏi: "Thưa Chủ tịch, trước hoạt động ở nước ngoài, vào tù ra khám, nay làm Chủ tịch nước, Chủ tịch thấy có gì thay đổi trong đời mình không?". Bác trả lời hóm hỉnh: "Không, không có gì thay đổi cả, lúc bị tù Quảng Tây luôn luôn có hai lính gác giải đi, lúc trong tù mỗi ngày 5 phút được hai người lính bồng súng dẫn ra dạo chơi. Nay làm Chủ tịch nước đi đâu cũng có hai đồng chí mang súng lục đi theo, ông thấy có gì thay đổi không nào?". Lần khác, Bác lên tàu đàm phán với Đô đốc Đácgiăngliơ ở Vịnh Hạ Long, khi gặp, Bác chủ động ôm hôn Đô đốc, các đồng chí đi theo thắc mắc, Bác nói: "Đánh nhau thì đánh nhau, mình hôn nó một cái thì có mất gì". Hôm sau, báo chí đưa ảnh và bình luận: "Hồ Chủ tịch ôm hôn Đô đốc chính là ôm chặt để bóp chết...".


Năm 1946, trên đường từ Pháp về Việt Nam, đến vùng biển Cam Ranh, Bác nhận được bức điện của Đô đốc Đácgiăngliơ xin gặp Bác trong cảng, mục đích của chúng là diễu võ, dương oai để uy hiếp tinh thần Bác. Trong bộ quần áo giản dị, Bác ngồi giữa một bên là Đô đốc hải quân Pháp, bên kia là Thống soái lục quân Pháp ở Viễn Đông với những bộ quân phục sáng loáng các thứ bội tinh, quân hàm, quân hiệu. Đácgiăngliơ nói bóng gió: "Thưa ông Chủ tịch, ông đã bị đóng khung giữa hải quân và lục quân đó". Bác thản nhiên mỉm cười: "Đô đốc biết đó, chính bức họa mới đem lại giá trị cho bộ khung". Bất ngờ và cay cú trước tài ứng xử thông minh của Bác, cả hai không dám nói xách mé nữa mà tỏ ta lịch lãm và kính phục.


Khi bàn về quy định các phù hiệu đi lên xe của Ủy ban Liên hiệp thi hành Hiệp định Giơnevơ, phía Pháp đề nghị trên xe có hai lá cờ: một bên lá cờ của ta, một bên của Pháp, còn phía dưới là cờ chính quyền Bảo Đại. Việc được hỏi ý kiến Bác, Bác bảo cứ chấp nhận đi rồi sẽ có những diễn biến lý thú. Đúng như Bác nói, khi xe đi đến đâu dân cũng chế giễu lá cờ ăn theo ngoại bang. Chuyện tếu lan khắp nơi "3 cột 3 cờ" có ý nhạo báng cờ Bảo Đại. Bọn bù nhìn ngụy quyền phản đối đòi thay đổi. Ta lấy cớ, đó là ý của Pháp nêu ra.


Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, có một cán bộ cấp cao nước ngoài đứng trước hàng quân cứ nói thao thao bất tuyệt, nào là chê ta cái này cái nọ, cứ yêu cầu làm theo họ thế này thế kia. Bác nghe, rất bực nhưng không nói gì. Đến giờ nghỉ, cùng ngồi uống nước, Bác giới thiệu đồng chí Hoàng Đạo Thúy trước đây là hướng đạo sinh, nay là cán bộ phụ trách công tác thông tin của quân đội. Vị cán bộ nọ hết sức thắc mắc vì sao lại giao một nhiệm vụ quan trọng như thế cho một hướng đạo sinh, Bác bảo: "Nước chú khác, nước chúng tôi khác". Ông ta chắc hiểu ý Bác.


Đầu năm 1950, Chính phủ Liên Xô mở tiệc chiêu đãi trọng thể Chủ tịch nước láng giềng của ta. Hôm chiêu đãi có mời Bác đến dự. Khi chuyện trò, Bác hỏi đồng chí Liên Xô: "Các đồng chí đã ký hiệp ước với nhau, nhân dịp tôi ở đây chúng ta cùng ký một hiệp ước với nhau". Chuyến đi của Bác lúc đó được giữ bí mật, nên đồng chí Chủ tịch trả lời Bác là: "Người ta sẽ nói đồng chí ở đâu đột ngột đến thì không tiện". Bác trả lời: "Cái đó dễ thôi, đồng chí cho một chiếc máy bay đưa tôi bay một vòng trên trời, sau đó cho người đón, rồi quay phim chụp ảnh đưa tin là ổn".


Năm 1967, Liên Xô quyết định tặng Bác Huân chương Lênin. Bác vốn xưa nay chưa bao giờ nhận huân chương. Lần này, Bác viết thư xin hoãn việc trao huân chương, chờ khi nào giải phóng hoàn toàn Tổ quốc lúc đó Bác sẽ thay mặt nhân dân Việt Nam, nhận huân chương cao quý đó. Hôm sau, các báo ở Liên Xô đăng trang trọng trên trang nhất quyết định tặng Huân chương của Nhà nước Liên Xô và thư của Bác. Qua đó nhân dân Liên Xô càng yêu quý Bác hơn.


Nhớ lần Bác đến thăm một nông trường ở ngoại ô Kiép, Bác đi xuống nơi công nhân đang lao động, thấy Bác mặc giản dị ai cũng quý, cũng muốn đến gần. Khi đó có một cô công nhân đứng cạnh Bác mạnh dạn hỏi: "Thưa Bác, cháu trộm nghĩ một mình Bác chắc chắn không tiêu hết lương Chủ tịch nước?". Bác nhẩm tính và vui vẻ trả lời: "Thế tính ra lương cháu gấp đôi lương Bác đấy".


Hồi kháng chiến chống Pháp, Bác thường đi xuống thăm các đơn vị cơ sở. Mà lần đi thăm xưởng quân giới Lê Tổ. Bác trả lời câu hỏi của anh chị em ngắn gọn, dễ hiểu. Có người hỏi, khi nào thì đồng tiền Việt Nam trở lại có giá trị như khi nó mới có, Bác trả lời: "Khi các cô chú tăng gia sản xuất tăng hai lần thì nó trở lại hai, là tăng ba lần nó trở lại ba lần". Có người hỏi, Đảng ta sắp ra công khai, vậy Bác có ra không, tên thật Bác là gì? Khi nói đến Bác có ra không? Cả hội trường cùng cười. Bác nói: "Đấy, cười là trả lời rồi đấy". "Tên thật Bác là Bác". Có câu hỏi: "Khi nào thì Bác có Bác gái?". Toàn thể reo cười, Bác trả lời: "Khi nào có thì Bác sẽ trả lời". Câu hỏi tiếp: "Phụ nữ các nước dân chủ họ làm gì ạ?". Bác trả lời: "Họ cũng lao động và tăng gia sản xuất, và học hát, các cô các thím thua họ ở chỗ học hát"...


Năm 1948, nhân ngày phong Đại tướng cho đồng chí Võ Nguyên Giáp, Bác vui vẻ ra câu đối:


"Giáp phải giải Pháp".


Các vị có mặt gặp thế bí vì vế đối nói lái này gói gọn ý Đại tướng Giáp phải giải giáp được quân Pháp.


Ông Tôn Quang Phiệt nhìn Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiến đọc vế đối:


"Hiến tài, hái tiền".


Bác khen vế đối hay, đạt cả ý lẫn lời, nên Bác tặng tác giả một quả cam.


Sau cuộc họp lớn, giữa trưa hè nắng đẹp mọi người đứng đâu vào đấy cả rồi, thợ ảnh cứ chạy bên này bên kia, chọn góc chụp, Bác đứng cạnh nhà thơ Tú Mỡ:


- "Chú chụp nhanh không thì tất cả bọn này thành Tú Mỡ cả".


Mọi người được phen cười vui vẻ. Bác vừa nói theo nghĩa tiếng Pháp (tuot là tất cả, mỡ là mồ hôi) vừa theo nghĩa tiếng ta, ngụ ý dí dỏm, vui vẻ.


Đồng chí Nguyễn Đăng Bảy, thời kỳ kháng chiến là phóng viên nhiếp ảnh thông tin Trung ương, khi chụp được một số ảnh của Bác, anh em bàn đưa ra trưng bày triển lãm. Hôm đó Bác tình cờ vào xem. Đồng chí đang hý hoáy trang trí, Bác hỏi: "Chú treo được bao nhiêu bức ảnh tất cả?". Đồng chí Bảy trả lời Bác: "Được tất cả 20 tấm ạ". Bác nói: "Hơn chứ, chú đếm lại xem thử". Đồng chí đếm đi tính lại cũng chỉ có 20. Lúc ấy, Bác cười, chỉ vào mình mà nói: "Còn đây là chiếc thứ 21 chứ".


Hôm khai mạc lớp chỉnh huấn có vui văn nghệ. Có đồng chí xung phong lên đọc thơ của Huy Cận, Bác hỏi vui: "Các tác giả bài thơ có ở đây không?". Nhà thơ Huy Cận thưa có. Bác nói: "Thế thì mời "tác thật" lên đọc thơ của mình "cho nó thật hơn". Sau Bác hỏi: "Có chú nào dân tộc Mường lên hát một bài tiếng Mường cho mọi người thưởng thức". Có đồng chí xung phong đọc bài thơ lục bát tiếng Kinh, đọc lơ lớ, bỏ hết dấu, Bác bảo "đấy không phải tiếng Mường".


Bác đến thăm nhà chị Loan (người kéo cờ ở quảng trường Ba Đình ngày 02/9, sau là phu nhân Đại tướng Hoàng Văn Thái) ở chiến khu. Vào đến nhà thấy đông con nhỏ, Bác nói vui: "Ồ tưởng đây là nhà cô Loan hóa ra mình vào nhầm nhà trẻ". Biết Bác phê bình khéo, chị ngượng cười và báo cáo: "Thưa Bác đây là "tiểu đội" của vợ chồng cháu đấy ạ". Bác vui vẻ bảo chị tập trung "tiểu đội" cứ lần lượt bé nhất đứng trước để Bác chia kẹo, chị đang loay loay sắp xếp đội hình, Bác bảo: "Tiểu đội trưởng cũng đứng vào hàng chứ". Bác chia kẹo cho các cháu và cho cả chị nữa. Khi đến lượt chị, Bác nói vui: "Bác khen là cô đã có công nuôi dạy các cháu ngoan".


Nhớ lần Bác đến thăm một gia đình cán bộ, thấy ba cháu gái xinh xắn ra chào Bác, Bác hỏi vợ chồng chủ nhà tên các cháu là gì. Chủ nhà thưa Bác tên các cháu là Thu Thủy, Thu Thảo, Thu Vân, Bác cười hiền lành và nói: "Sao đặt "văn chương" thế, gọi Thu Ngô, Thu Sắn, Thu Khoai có hay không". Khi ra về Bác bảo: "Nói vui thế thôi, chứ những tên Việt Nam ấy rất đẹp".


Đồng chí Tạ Quang Bửu có cháu trai đầu lòng, có chai mật ong, Bác gửi tặng cháu và tự tay Bác viết "nhãn hiệu" tặng cháu Quang. Thời gian sau, Bác ghé vào thăm nhà đồng chí Bửu, Bác gọi âu yếm "Thằng Quang đâu? Thằng "xã xệ" đâu, ra ông bế nào". Rồi Bác chụp ảnh với cháu và không quên gửi tặng ảnh cho cháu.


Một lần đến dự cuộc họp Trung ương, thấy một cô gái đứng cạnh đường chào Bác, Bác hỏi: "Cháu đứng đây làm gì". Được biết cô là lính bảo vệ, Bác hỏi vui: "Thế cháu đứng bảo vệ Bác thì ai bảo vệ cháu?".


Có lần Bác đến thăm một địa phương, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy đứng lên thưa với Bác, có câu: "Thưa Bác Hồ, vị cha già dân tộc", Bác ngoảnh lại nói với mọi người: "Bác chưa già đâu". Buổi đó Bác được tặng ba bó hoa, Bác hỏi đồng chí Bí thư: "Theo chú thì Bác nên tặng hoa cho ai?". Đồng chí trả lời Bác: "Thưa Bác, Bác tặng cho phụ nữ, thanh niên...". Bác cười và nói vui: "Phụ nữ, thanh niên không tặng Bác thì thôi...". Bác xuống sân và tặng một cụ già cao tuổi nhất, một cháu thiếu nhi và cho bộ đội.


Lần Bác đến thăm Đại hội Anh hùng - chiến sĩ thi đua Quân chủng Phòng không - Không quân năm 1969, Bác hỏi: "Chú nào hạ được nhiều máy bay nhất?".


Thưa Bác, đồng chí Cốc ạ. Mọi người đồng thanh trả lời. Bác gọi: "Chú Cốc lên để Bác bắt tay". Bác nói: "Năm nay mong chúng ta có nhiều Cốc hơn nữa".


Đến thăm Đại hội chiến sĩ thi đua toàn quốc, Bác đến gần một cô gái và hỏi: "Đơn vị cháu có mấy người trong đoàn?". Cô gái lúng túng trả lời: "Thưa Bác, chỉ một mình cháu được đi thôi ạ". Bác dí dỏm: "Thế đơn vị cháu nhiều người tiêu cực thế à, chỉ được một mình cháu?".


Một đoàn cán bộ vào gặp Bác, Bác mời ăn kẹo nhưng ai cũng muốn nghe Bác nói chuyện chứ không muốn ăn, thấy thế Bác bảo: "Không ai ăn kẹo thì Bác cho mang về".


Lúc đó, Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên hóm hỉnh nói: "Bác cho, ta đưa cả về". Bác cười vui nói ngay: "Bác cho đưa kẹo về, đĩa phải để lại Bác còn tiếp khách chứ".


Nhớ lần đi "dã ngoại", bữa ăn mang theo có thịt bò. Đến bữa ăn, đồng chí Vũ Kỳ chỉ vào đĩa thịt, hỏi đồng chí bảo vệ: "Đố biết đây là thịt gì?". Đồng chí này trả lời là thịt bò, đồng chí Vũ Kỳ hỏi tiếp: "Nhưng mà thịt bò gì chứ?" Đồng chí bảo vệ đang băn khoăn chưa kịp trả lời, đồng chí Vũ Kỳ nói tiếp: "Đây là thịt bò rừng, loại này đặc biệt lắm, người ta không bắn được nó mà phải dùng muối bỏ vào bẫy rồi mới bắt được nó". Đang lúng túng lại nghe kể có vẻ ly kỳ, nên đồng chí có vẻ chăm chú lắng nghe, tưởng như thật. Thấy vậy, Bác vỗ vai vừa cười vừa hỏi: "Thế Bác đố chú một cân sắt nặng hơn hay một cân bông nặng hơn?". Nghe Bác đố, lúc đầu đồng chí định trả lời là cân sắt nặng hơn, nhưng nhìn ánh mắt vui vẻ của Người, đồng chí bình tĩnh cân nhắc trả lời là nặng bằng nhau. Bác nói đùa vui: "Cân sắt chắc nặng hơn chứ" như muốn nói thịt bò nào mà chả giống nhau, cái chính là phải trả lời dứt khoát để người ta khỏi vặn vẹo, quanh co.


Một lần đến thăm đơn vị bộ đội, đi đường xa trời nắng, nhưng tới nơi Bác đi thăm anh em ngay, Bác đến thăm nơi ăn chốn ở, thăm nơi sinh hoạt văn hóa, thấy tờ báo tường viết câu: "Hồ Chủ tịch muôn năm" kẻ đẹp nắn nót nhưng không không dấu, Bác bảo vui: "Ừ đúng, Bác đi mệt, Hồ Chủ tịch muốn nằm", rồi Bác hỏi: "Sao viết không có dấu, người đọc có thể đọc sai ý". Có đồng chí trả lời Bác là thêm dấu nó mất đẹp đi, Bác nói: "Các chú viết đẹp nhưng chưa đúng nên mất đẹp đi đấy, chữ Việt ta rất đẹp, khi đúng, đủ dấu càng đẹp hơn". Lần đến thăm xã Sài Sơn, thấy tấm biển treo trên trụ sở Việt Minh xã có dòng chữ không dấu "TRU SO VIET MINH", Bác liền đọc: "Sô viết mình", rồi Bác bảo các chú viết thế ai mà đọc đúng được. Tấm biển được thêm dấu nên rõ ràng hơn, ai mới biết chữ cũng đọc được. Bác vào thăm Nông trường Sông Hiếu, cùng đi với đồng chí giám đốc vào trung tâm nông trường, Bác chỉ câu khẩu hiệu viết không dấu, Bác hỏi: "... LAM TRA NOI SONG" là gì? Đồng chí thưa Bác câu khẩu hiệu là: "Hưởng ứng chiến dịch Lam Trà nổi sóng". Bác bảo: "Thế thì chú phải cho một người đứng đây để đọc dịch câu khẩu hiệu đó chứ". Khi Bác đi thăm xong nông trường thì câu khẩu hiệu cũng được sửa xong. Lần Bác đi qua Nhà máy Cơ khí Gia Lâm, đến trước cổng nhà máy thấy dòng chữ to chạy dài trên cổng nhà máy: "NHA MAY CO KHI GIA LAM", Bác bèn đọc: "Nhà mày có khỉ già lắm" Bác phê bình, chữ viết phải có dấu để người đọc khỏi nhầm.#C4

Share:

Vẻ Đẹp Của Bác

 Tâm sinh tướng" (Tâm sinh ra tướng mạo) khi nói về Bác Hồ là cách diễn tả vẻ đẹp cao quý, toát ra từ tâm hồn trong sáng, nhân hậu, và trí tuệ lỗi lạc, thể hiện qua phong thái giản dị, gần gũi, đôi khi có chút hóm hỉnh, khác biệt với vẻ ngoài bình thường nhưng chứa đựng sức mạnh tinh thần vô biên, tạo nên hình ảnh một vị lãnh tụ vĩ đại, được yêu kính. Điều này thể hiện qua: 



Tâm hồn yêu nước sâu sắc: Lòng yêu dân, yêu nước vô bờ bến, hy sinh cả đời vì độc lập dân tộc, như câu nói "Không có gì quý hơn độc lập, tự do".

Trí tuệ và phong thái: Sự kết hợp giữa tâm hồn xứ Nghệ bình dị, sâu lắng (yêu dân ca) và trí tuệ uyên bác đã tạo nên con người Hồ Chí Minh vĩ đại.

Vẻ ngoài giản dị, gần gũi: Dù là Chủ tịch nước, Bác Hồ luôn giữ lối sống thanh bạch, hòa mình với nhân dân, không phô trương, khiến ai cũng cảm thấy thân thuộc.


Tướng mạo "mong manh nhưng hồn muôn trượng": Dù vóc dáng không cao lớn, nhưng thần thái toát ra sự kiên cường, bất khuất, một "tướng" của đấng cứu quốc, vĩ nhân. 

Tóm lại, "Tâm sinh tướng Bác Hồ" nhấn mạnh rằng vẻ đẹp và khí chất phi thường của Người đến từ chính tâm hồn, nhân cách cao đẹp, chứ không phải từ hình thể bề ngoài, trở thành nguồn cảm hứng bất tận.

Share:

Công an thông báo tới tất cả những ai nhận được cuộc gọi có nội dung sau

 Thời gian gần đây, tình trạng các đối tượng sử dụng hình thức gọi điện thoại trực tiếp để lừa đảo, chiếm đoạt tài sản tiếp tục diễn biến phức tạp với nhiều thủ đoạn ngày càng tinh vi. Không chỉ gây thiệt hại về kinh tế, các hành vi này còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến tâm lý, đời sống của người dân. Trước thực trạng đó, Công an tỉnh Quảng Ngãi khuyến cáo người dân cần nâng cao cảnh giác, chủ động nhận diện sớm những dấu hiệu của các cuộc gọi có dấu hiệu lừa đảo.



Theo cơ quan Công an, một trong những biểu hiện dễ nhận thấy là các đối tượng thường cung cấp thông tin không rõ ràng hoặc thiếu căn cứ. Chúng có thể tự xưng là cán bộ cơ quan nhà nước, nhân viên ngân hàng hay đại diện một tổ chức nào đó, nhưng lại không nói rõ mục đích cuộc gọi, không cung cấp được thông tin xác thực về danh tính. Khi người nghe yêu cầu làm rõ, các đối tượng này thường né tránh, trả lời vòng vo hoặc không đưa ra được bất kỳ giấy tờ, căn cứ pháp lý nào.

Bên cạnh đó, các đối tượng lừa đảo thường lợi dụng tâm lý lo lắng của người dân bằng cách tạo áp lực, gây cảm giác khẩn cấp. Chúng liên tục thúc giục người nghe phải xử lý “ngay lập tức”, đe dọa rằng nếu chậm trễ sẽ phát sinh hậu quả nghiêm trọng như bị phong tỏa tài khoản, liên quan đến vụ án hoặc mất quyền lợi. Việc tạo tâm lý hoang mang, buộc nạn nhân hành động vội vàng là chiêu thức quen thuộc nhằm khiến người dân mất cảnh giác.

Đáng chú ý, trong nhiều trường hợp, các đối tượng còn yêu cầu người nghe cung cấp những thông tin cá nhân, tài chính quan trọng như số tài khoản ngân hàng, mã OTP, số thẻ tín dụng hoặc số căn cước công dân. Công an tỉnh Quảng Ngãi nhấn mạnh, các cơ quan nhà nước và tổ chức tín dụng tuyệt đối không yêu cầu người dân cung cấp các thông tin nhạy cảm này qua điện thoại. Mọi yêu cầu theo hình thức trên đều tiềm ẩn nguy cơ lừa đảo.

Ngoài ra, không ít cuộc gọi lừa đảo đánh vào tâm lý ham lợi của nạn nhân bằng cách đưa ra những lời hứa hấp dẫn như trúng thưởng, nhận quà, được hoàn tiền hoặc hưởng ưu đãi lớn. Tuy nhiên, đi kèm với đó thường là yêu cầu chuyển tiền, đóng phí hoặc cung cấp thông tin cá nhân trước khi “nhận quyền lợi”. Đây là thủ đoạn quen thuộc nhằm chiếm đoạt tài sản của người nhẹ dạ, cả tin.

Trước những thủ đoạn ngày càng tinh vi, Công an tỉnh Quảng Ngãi khuyến cáo người dân cần luôn giữ bình tĩnh khi nhận được các cuộc gọi có dấu hiệu nghi vấn, không làm theo bất kỳ yêu cầu nào từ phía đối tượng. Đồng thời, tuyệt đối không cung cấp thông tin cá nhân, thông tin tài khoản ngân hàng hay mã xác thực cho bất kỳ ai qua điện thoại. Trong trường hợp nghi ngờ bị lừa đảo, người dân cần chủ động xác minh thông tin qua các kênh chính thống hoặc liên hệ ngay với cơ quan Công an nơi gần nhất để được hướng dẫn, xử lý kịp thời.

Cùng với đó, việc chủ động chia sẻ các thông tin cảnh báo đến người thân, bạn bè cũng là cách thiết thực để góp phần phòng ngừa, hạn chế thiệt hại và đấu tranh hiệu quả với các hành vi lừa đảo qua điện thoại và trên không gian mạng.

(Nguồn: Công an tỉnh Quảng Ngãi)

Share:

Nghị quyết 254/2025/QH15 quy định rõ các trường hợp cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất (sổ đỏ)

 Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Nghị quyết 254/2025/QH15 quy định về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, cụ thể bao gồm:



- Trường hợp chuyển nhượng quyền khai thác khoáng sản theo quy định của pháp luật về địa chất và khoáng sản hoặc trường hợp chuyển đổi loại hình doanh nghiệp mà người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất đã được cấp một trong các loại Giấy chứng nhận quy định tại khoản 1 Điều 133 Luật Đất đai 2024 thì thực hiện đăng ký biến động;

- Trường hợp đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất quy định tại điểm p khoản 1 Điều 133 Luật Đất đai 2024 thì được cập nhật biến động vào cơ sở dữ liệu đất đai mà không phải xác nhận trên Giấy chứng nhận đã cấp;

- Trường hợp Luật Nhà ở 2023, Luật Kinh doanh bất động sản 2023 có quy định về thời hạn nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho bên mua tài sản khác với thời hạn đăng ký biến động theo quy định Luật Đất đai 2024 thì thực hiện theo quy định Luật Nhà ở 2023, Luật Kinh doanh bất động sản 2023;

- Trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 135 Luật Đất đai 2024 thì cấp chung một Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất;

- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 trở về sau thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định tại khoản 3 Điều 137 Luật Đất đai 2024;

- Trường hợp đất được giao để quản lý quy định tại Điều 7 Luật Đất đai 2024 mà thuộc quy định tại Điều 139 Luật Đất đai 2024 thì được xem xét, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định tại Điều 139 Luật Đất đai 2024.

Nghị quyết 254/2025/QH15 chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1.1.2026, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều 12 Nghị quyết 254/2025/QH15 có hiệu lực thi hành từ ngày 11 tháng 12 năm 2025.

Share:

Quy định về người đứng tên khi cấp đổi sổ đỏ hộ gia đình

Trên Cổng thông tin Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường trả lời công dân về việc ghi lại tên chủ sở hữu sau khi cấp đổi sổ đỏ hộ gia đình?



Bà T.T ở Đồng Tháp phản ánh, theo quy định mới, khi cấp sổ đỏ sẽ không còn ghi tên "hộ" mà chỉ ghi tên người đại diện hoặc những người có chung quyền sử dụng đất. Vì vậy, khi thực hiện thủ tục cấp đổi sổ đỏ, các thành viên trong hộ ông Nguyễn Văn A thống nhất để ông C và ông D đại diện đứng tên.Căn cứ khoản 4 Điều 256 Luật Đất đai năm 2024, việc cấp đổi sổ đỏ đối với các thành viên có chung quyền sử dụng đất của hộ gia đình do các thành viên tự thỏa thuận và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Quy định này không yêu cầu phải có giấy tờ của cơ quan có thẩm quyền xác nhận số thành viên hộ gia đình tại thời điểm được giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất.

Bà T hỏi, việc thay đổi người đại diện trong sổ đỏ cần có văn bản thỏa thuận giữa các thành viên của hộ gia đình được cơ quan có thẩm quyền xác nhận không, hay đơn đăng ký biến động thể hiện nội dung ông C và D đứng đại diện cho thành viên còn lại?Trường hợp sổ đỏ nêu trên nếu hộ gia đình có nhu cầu cấp mỗi thành viên một giấy có được không?

Bộ Nông nghiệp và Môi trường trả lời vấn đề này như sau:Việc cấp giấy chứng nhận đối với thửa đất thuộc quyền sử dụng của hộ gia đình đã được quy định về nguyên tắc tại khoản 5 Điều 135 Luật Đất đai năm 2024, trong đó đã quy định cấp một giấy chứng nhận và ghi đầy đủ tên các thành viên có chung quyền sử dụng đất trên giấy chứng nhận.Việc xác định các thành viên có chung quyền sử dụng đất của hộ gia đình để ghi tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất do các thành viên này tự thỏa thuận và chịu trách nhiệm trước pháp luật (trong đó đã bao gồm việc thay đổi người đại diện trong Giấy chứng nhận), không quy định thỏa thuận trên phải có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền.

Tại điểm a khoản 2 mục VII, nội dung C, Phần V Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị định số 151/2025/NĐ-CP quy định đối với trường hợp cấp đổi giấy chứng nhận để ghi tên đầy đủ tên thành viên có chung quyền sử dụng đất trên giấy chứng nhận thì nội dung trong Đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất theo Mẫu số 18 ban hành kèm theo Nghị định này phải thể hiện thông tin các thành viên có chung quyền sử dụng đất của hộ gia đình.Bộ Nông nghiệp và Môi trường thông tin đến công dân được biết và nghiên cứu thực hiện.

Share:

LUẬN ĐIỂM VỀ NGỤY KINH (KINH PHI PHẬT THUYẾT)

 

Sự thật lịch sử là một thực thể khách quan, không thể bị thay đổi bởi những huyền thoại hay niềm tin tôn giáo. Các nghiên cứu văn bản học và khảo cổ học hiện đại đã chỉ ra một khoảng cách mênh mông về cả thời gian lẫn tư tưởng giữa Tạng kinh Pali (Nikaya)—những lời dạy mộc mạc được kết tập sớm nhất bởi các vị Thánh A-la-hán—với hệ thống kinh điển Đại thừa, Mật tông hay các "ngụy kinh" ra đời muộn sau đó từ 5 đến 15 thế kỷ. Những văn bản hậu kỳ này không chỉ thay đổi về ngôn ngữ (từ Pali sang Sanskrit hậu kỳ hay Hán văn), mà còn thực hiện một cuộc "cải cách" triệt để về mặt bản chất: biến Đức Phật từ một đạo sư lịch sử thành một vị thần vạn năng, biến lộ trình tu tập tự lực thành sự cầu khẩn tha lực, và lồng ghép những tư tưởng "ngã vĩnh hằng" vốn là điều mà bậc Chánh Biến Tri đã dành cả cuộc đời để bác bỏ.



Bài viết này không nhằm mục đích công kích cá nhân hay tông phái, mà là một nỗ lực trí tuệ nhằm minh định lại giá trị của Buddhavacana (Lời Phật thuyết). Bằng cách vạch trần nguồn gốc, tác giả và niên đại thực sự của các hệ thống văn bản hậu kỳ, chúng ta sẽ trả lại sự thanh tịnh cho Chánh pháp, giúp người tu học nhận diện rõ đâu là những liều thuốc độc bọc đường của triết học hư cấu, và đâu là con đường Bát Chánh Đạo duy nhất dẫn đến sự diệt tận khổ đau.

Xem thêm tại đây: https://phattudatviet.blogspot.com/2026/01/luan-iem-ve-nguy-kinh-kinh-phi-phat.html?m=1

Share:

LỊCH SỬ CHÙA AM - ĐỜI THỨ NĂM: ĐỨC TRƯỞNG LÃO THÍCH THÔNG LẠC

 LÊ NGỌC AN, pháp danh là THÍCH THÔNG LẠC, sinh năm 1928, là người con thứ tư, lúc bấy giờ là sinh viên tại Sài Gòn, nên làm thẻ sinh viên và căn cước đề năm sinh 1935, nhờ đó, tuổi học trò được kéo dài để hoạt động cách mạng trong giới học sinh, sinh viên dễ dàng hơn.



Thừa kế sự nghiệp cách mạng của cha ông, thầy Thông Lạc biến Chùa Am thành một cơ sở in ấn tài liệu tuyên truyền học tập cách mạng, phát động phong trào yêu nước rộng rãi trong quần chúng, biến thành những cuộc biểu tình chống chế độ độc tài phát xít gia đình trị Ngô Đình Diệm.


Những cuộc xuống đường biểu tình chống chế  độ độc tài phát xít gia đình trị Ngô Đình Diệm làm cho tề ấp lúc bấy giờ run sợ khiếp đảm, làm hạn chế bớt những tay sai, chó săn, chim mồi của bè đảng Ngô Đình Diệm.

https://phattudatviet.blogspot.com/2026/01/lich-su-chua-am-oi-thu-nam-uc-truong.html?m=1

Share:

XUẤT GIA VÀ HOÀN TỤC…

 

Có một người xuất gia rồi hoàn tục. Bạn bè gặp lại hỏi anh vì sao đi tu, rồi vì sao hoàn tục. Anh đáp ngày xưa đi tu vì nghiên cứu thấy đạo lý của Phật hay quá, muốn đem hết cuộc đời áp dụng thực hành đạo lý đó. Nhưng khi vào chùa thì ở đó chưa phải môi trường để thực hành lời Phật dạy.



Ngày mấy buổi tụng kinh rồi thôi. Kinh chỉ để tụng chứ không phải là để thực hành. Rảnh rỗi chẳng biết làm gì nên xin đi học. Học đủ thứ môn nhưng áp dụng rất ít, và mục tiêu đi học cũng chỉ là lấy bằng cho có cái danh với người ta.

Còn thực tế cơm áo gạo tiền thì phải nhờ đi tụng đám mới sống được. Kinh tế nhà chùa rõ ràng là một loại dịch vụ trao đổi, nhà tín đồ cần có một nghi lễ, các thầy đáp ứng nhu cầu đó và nhận một số ti;ền về. Đến khi dịch vụ đó trở nên khẳng định vị thế trong cuộc sống thì dịch vụ được định gi;á hẳn hoi.

Để có cơm ăn áo mặc duy trì đời sống tu sĩ thì buộc phải bước vào dịch vụ tụng đám, thế thôi. Mãi rồi cái lý tưởng ban đầu tràn ngập cảm xúc bởi lời Phật dạy không còn nữa, nên không cần phải tu dưỡng đạo đức nội tâm gì nữa, và ph;ạm lỗi mà không hối hận nữa.

Anh nói là ước ao làm sao khi ai đó đi tu là được bước vào một môi trường thực hành lời Phật dạy rất chân chính. Làm sao có được những ngôi chùa trong đó có bậc thầy dạy đệ tử sống và thực hành lời Phật dạy triệt để, ai cũng thực sự yêu thương nhau và yêu thương chúng sinh. Làm sao mỗi ngày sống trong chùa là một ngày sống trong cõi Phật vì ai cũng cố gắng cống hiến phụng sự tu dưỡng như lời Phật dạy.

Bạn anh hỏi nếu tìm được ngôi chùa đúng như vậy thì anh có đi tu lại không. Anh đáp là không biết nữa vì cảm xúc hết rồi. Cảm xúc vì đọc sách Phật rất mạnh, nhưng đời sống ở chùa đã g;i;ết ch;ết cảm xúc đó rồi. Bây giờ nếu ngôi chùa nào cho anh cảm xúc đó thì biết đâu được. Anh có kinh nghiệm, sách vở cho ta cảm xúc ban đầu, nhưng phát triển nuôi dưỡng cảm xúc lý tưởng đó phải là một vị thầy thực sự, một ngôi chùa thực sự.

Share:

CHÚC XUÂN 2026

 

Mừng đón Xuân về tôi chúc cầu

Dâng lên Tổ Quốc nhớ Ân sâu

Việt Nam có Bác khai sinh Đảng

Dòng dõi Rồng Tiên thật nhiệm mầu.



Mừng đón Xuân về tôi nguyện cầu

Dân giàu nước mạnh tiến cùng nhau

Giáo, Lương đoàn kết xây đời sống 

Phật, Chúa giúp dân mãi mạnh giàu..


Xuân về quý mến chúc bài thơ

Tâm nguyện sáng tươi mãi đợi chờ

Tổ Quốc chuyển mình đang đổi mới

Việt Nam giờ đến lúc đẹp mơ

Bút phi như gió thành thơ phú

Cảo mực xinh tươi chẳng vết nhơ

Lục Bát điệu vần vương vấn mãi

Đường Thi trăng toả ngát hương mơ...

Grand Master. Hoàng Quốc Huy

https://hoangquochuyvn.blogspot.com/2025/12/chuc-xuan-2026.html?m=1

Share:

Ở ĐÂU BẠN PHẢI NÍN NHỊN ĐỂ TỒN TẠI - Ở ĐÓ BẠN KHÔNG THUỘC VỀ.

 Ở ĐÂU BẠN PHẢI NÍN NHỊN ĐỂ TỒN TẠI - Ở ĐÓ BẠN KHÔNG THUỘC VỀ.



Có những nơi, bước vào là thấy mình phải thu nhỏ lại.

Có những mối quan hệ, chỉ cần mở miệng là sợ làm phật lòng ai đó.

Và có những môi trường, bạn phải tự bóp nghẹt cảm xúc… chỉ để được yên ổn mà sống.

Nhưng bạn biết không — con người không sinh ra để “sống sót”, mà để sống đúng với bản chất của mình.

Bởi vì:

Nơi buộc bạn im lặng mới tồn tại được…

là nơi không dành cho tiếng nói của bạn.

Nơi khiến bạn dè chừng từng câu chữ…

là nơi không xứng để bạn trao hết lòng.

Nơi bạn luôn phải mạnh mẽ hơn mức bình thường…

là nơi không hề mang lại bình yên.


Đừng nhầm lẫn giữa kiên nhẫn và cam chịu.

Đừng gọi sự im lặng vì tổn thương là “biết điều”.

Một người thuộc về đúng nơi sẽ không cần nín nhịn để được ở lại.

Một trái tim ở đúng chỗ sẽ không phải co rúm để được chấp nhận.

Cuối cùng bạn sẽ nhận ra:

Nơi nào bắt bạn phải nuốt nước mắt vào trong… nơi đó không có tương lai cho bạn.

Nơi nào khiến bạn được là chính mình… nơi đó mới thật sự gọi là “nhà”.


Sưu tầm.

Share:

Tổng Lãnh sự Đường Lập tại TP. Hồ Chí Minh tham dự Lễ công bố “Bộ luật Dân sự nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa"

Ngày 29 tháng 12 năm 2025, Tổng Lãnh sự Trung Quốc tại TP. Hồ Chí Minh Đường Lập đã tham dự Lễ công bố của“Bộ luật Dân sự nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa”(Bản dịch). Tham dự sự kiện có khoảng 60 người, gồm ông Hà Hải, Phó Chủ nhiệm Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh; ông Nguyễn Thành Trân, Chủ biên Bản dịch của Bộ luật Dân sự nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa; đại diện Công ty phát hành sách Omega+ Việt Nam, đại diện giới luật sư hai nước Trung-Việt , cùng các giảng viên, sinh viên chuyên ngành luật của Trường Đại học Kinh tế - Luật TP. Hồ Chí Minh, Trường Đại học Tài chính – kinh tế TP.Hồ Chí Minh, Trường Đại học Ngoại thương cũng như Trường Đại học Kinh tế và Trường Đại học Gia Định TP.Hồ Chí Minh.





Tổng Lãnh sự Đường Lập nhấn mạnh rằng, dưới sự chỉ đạo của Tư tưởng pháp trị Tập Cận Bình, công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa mang đặc sắc Trung Quốc đã đạt được những thành tựu mang tính lịch sử và tạo ra những chuyển biến mang tính lịch sử. Cùng là quốc gia Xã hội chủ nghĩa, Trung Quốc và Việt Nam cần tăng cường trao đổi và học hỏi lẫn nhau về kinh nghiệm xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa. Việc công bố Bản dịch của Bộ luật Dân sự sẽ góp phần mạnh mẽ thúc đẩy giao lưu về văn minh pháp quyền giữa Trung Quốc và Việt Nam, phục vụ hợp tác kinh tế-thương mại và giao lưu nhân dân của hai nước.


Ông Chủ biên Nguyễn Thành Trân đã chia sẻ về quá trình biên dịch, những kinh nghiệm khảo cứu và đối chiếu thuật ngữ pháp lý Việt-Trung. Các chuyên gia, học giả tham dự đã thảo luận về giá trị học thuật và ý nghĩa thực tiễn của bản dịch tiếng Việt. Ông Hà Hải ,Phó Chủ nhiệm Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh cùng một số đại diện khác cho rằng Bộ luật Dân sự là bản tuyên ngôn về việc bảo vệ nhân quyền và lợi ích con người trong bối cảnh kinh tế thị trường Xã hội chủ nghĩa. Bản dịch sẽ góp phần tăng cường sự hiểu biết của các giới ở Việt Nam đối với pháp luật Trung Quốc, cung cấp tài liệu tham khảo quý báu cho những người làm công tác pháp luật, đồng thời tạo nên chiếc cầu nối cho giao lưu văn minh pháp quyền giữa Việt–Trung.


Tại buổi lễ công bố, Tổng Lãnh sự Đường Lập đã trao tặng “Bộ luật Dân sự nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa” cho các đại diện của trường đại học tham dự sự kiện.








驻胡志明市总领事唐立出席《中华人民共和国民法典》(越文版)发布仪式


2025年12月29日,驻胡志明市总领事唐立出席《中华人民共和国民法典》(越文版)发布仪式。胡志明市律师协会副主任河海、越文版主编阮成珍、越欧米伽图书发行公司及中越律师代表、胡市经济法律大学、财经大学、外贸大学、经济大学、嘉定大学法律专业师生代表等约60人出席。


唐总领事表示,在习近平法治思想引领下,中国特色社会主义法治建设取得了历史性成就、发生了历史性变革。中越同为社会主义国家,两国应加强社会主义法治建设经验交流互鉴。《民法典》(越文版)发布将有力促进中越法治文明交流,服务两国经贸和人员往来。


《民法典》(越文版)主编阮成珍分享了编译过程、考据心得及越中法律术语对照经验。与会专家学者围绕越文版学术价值与实践意义展开讨论。胡市律师协会副主任河海等表示,《民法典》是在社会主义市场经济背景下关于人权与个人利益保护的宣言。越文版有助于增进越南各界对中国法律的了解,为法律从业人员提供宝贵参考和借鉴,架起中越法治文明交流的桥梁。


发布仪式上,唐总领事向与会高校代表赠送《民法典》(越文版)。

Share:

TRUYỀN THUYẾT VỀ VỤ H.Ỏ.A H.O.Ạ.N Ở THÀNH CHÂU LẦU

  


Tại Quảng Châu, Trung Quốc, có một tòa nhà cổ nổi tiếng mang tên Thành Châu Lầu vốn từng là quán rượu, nhà tiệc lâu đời hơn 260 năm và là nơi nhiều cặp đôi chọn tổ chức đám cưới. Tuy nhiên, vào tối 9/10/1985, khi một cặp vợ chồng đang tổ chức tiệc cưới trên tầng 3 thì máy phát điện ở dưới cầu thang bất ngờ bốc 🔥. Do toàn bộ tòa nhà làm bằng gỗ và không có hệ thống chữa cháy hiện đại, ngọn lửa lan nhanh, thiêu rụi các tầng trên, khiến 8 người t.h.i.ệ.t mạ.ng và 24 người bị thương – trong đó cô dâu cùng gia đình cô đều q.u.a đ.ờ.i, còn chú rể may mắn sống sót sau khi nhảy ra ngoài.



Kể từ đó, những câu chuyện rùng rợn lan truyền khắp nơi. Vào nửa đêm ngày 16/10/1985, nhiều người dân gần đó nghe thấy tiếng kèn đón dâu vang lên trên ngã tư trước Thành Châu Lầu, dù ở thời đó không còn tục rước dâu bằng kèn. Một số người gan dạ còn nhìn thấy một đoàn rước dâu mờ ảo trong trang phục đỏ rực, họ đi đến trước cửa, đứng lặng một lúc rồi bật khóc thảm thiết, khiến người nghe sởn gai ốc, rồi biến mất lúc gần sáng.


Câu chuyện rùng rợn không dừng lại ở đó. Vào 100 ngày sau vụ cháy (đầu năm 1986), khi chú rể và thân nhân đến cúng bái cầu siêu, một thanh tay vịn ở tầng 3 bất ngờ rơi trúng chú rể khiến anh bị thương nặng và phải nằm viện lâu dài. Trong thời gian điều trị, chú rể được cho là thường xuyên gặp ác mộng và cảm giác như bị ai đó đeo bám.


Sau này, khi Thành Châu Lầu được cải tạo, những điều “kỳ lạ” tiếp tục xảy ra: có công nhân tại tầng 3 đột nhiên hành xử khác thường, nói linh tinh rồi có ý định nhảy xuống (may mắn được ngăn lại), và sau đó bị ốm nặng phải mất thời gian dài để hồi phục. Tòa nhà sau nhiều lần đổi tên, thay đổi mục đích sử dụng rồi cuối cùng bị bỏ hoang vào năm 2006 khiến nhiều người tin rằng những điều kỳ bí có liên quan tới thảm kịch năm xưa, nhưng đến nay vẫn không ai có lời giải đáp thỏa đáng.

Share:

ĐẠI ÁN GI/ẾT NG/ƯỜI Đ/ỐT X/ÁC CỦA BĂNG ĐẢNG TÚ MẬU BÌNH 1997

 

◼️ Chuyện gì đã xảy ra?



Vào tối ngày 14/5/1997, Lục Chí Vỹ biệt hiệu là A Kê tuổi tầm 16 đã trở thành m.ục t.iêu của nhóm 14 đứa trẻ, thân cô thế cô, Lục Chí Vỹ đã bị mang đến phòng 1508 (nơi ở của Trần Mộc Thanh) thôn Tú Mậu Bình. Lục Chí Vỹ đã cầu xin tha nhưng không ai ngó ngàng đành để mặc cho bọn chúng ng.ược đ.ãi. Bọn chúng đã biến Lục Chí Vỹ thành b.ao c.át v.ây đ.ánh dữ dội, A Kê bị đ.ánh nằm sóng xoài trên đất bọn chúng vẫn không dừng lại, một người trong số bọn chúng đã lấy chân đ.ạp lên đầu và cánh tay của A Kê.


Một mặt bọn chúng v.ây đ.ánh A Kê, một mặt đặt câu hỏi chỉ cần A Kê trả lời chậm một chút là sẽ dùng roi và côn bằng kim loại tự chế đá.nh tới tấp. Sau đó thậm chí bọn chúng còn tr.eo ngư.ợc A Kê lên trút ngược đầu xuống đất. Bọn chúng bắt chước cách tr.a t.ấn trong truyện tranh vừa đọc thơ vừa dùng côn có khắc tên mình ng.ược đ.ãi n.ạn nh.ân. Cuối cùng A Kê không chống đỡ nỗi đã trút hơi thở cuối cùng. Bọn chúng thấy A Kê đã ch.ết liền dùng a.xit s.ulfuric và lửa đ.ốt th.i th.ể sau đó vứt bỏ tại nơi bỏ rác.


Th.ủ ph.ạm liên quan đến vụ án có tổng cộng 14 người nhưng điều kinh khủng là khi gây án bọn chúng còn chưa đủ 18 tuổi! Trước khi xảy ra vụ án Trần Mộc Thanh một người đàn ông thiểu năng tâm thần nhẹ sống ở Tú Mậu Bình đã bị b.ắt nạ.t bởi băng đảng này sau đó bọn chúng vì hoài nghi là Lục Chí Vỹ xúi giục Trần Mộc Thanh báo cảnh sát nên đã ra tay với Lục Chí Vỹ.


Thạch Tử Kiện một tên trong số chúng kể lại tình huống lúc đó: “Bọn con gái cầm cán dù đá.nh hắn tới tấp, giống như đ.ánh chó vậy. Lúc này tâm tình của mọi người đã mất kiểm soát, càng đánh càng hưng phấn, ai cũng ra tay. Cuối cùng A Tiến quyết định không dùng tay chân nữa, hắn hỏi mượn ở chỗ Mạch Gia Hào dây nịt da sau đó gập lại làm đôi đ.ánh vào tay chân A Kê giống như quân đội Nhật Bản tra khảo ph.ạm nhâ.n vậy.


Ra sức đá.nh khoảng 5 phút dây nịt bị bung ra, Gia Hào rất tức giận cho là A Kê gồng lên khiến dây nịt cũng bị hư nên đã lao về phía A Kê điên cuồng trút giận. Sau đó Gia Hào như nhớ ra gì đó đột nhiên hét lên “Tao muốn dùng “Trát côn” (gi.a ph.áp của nhóm), đứa nào không liên quan thì đi ra”. Ngay sau đó bày gia pháp muốn nghiêm trị “Nhị ngũ tử”.


Hắn kêu A Kê qu.ỳ xuống một cây tre khô, mặt nhìn về phía bức tượng “Quan đế” tay nâng một cây tre khác, khi A Kê nói ra chuyện mình đã làm sai, Gia Hào lại cầm côn đ.ánh vào lưng hắn. Mỗi lần đ.ánh đầu A Kê đều bị văng về phía trước phát ra tiếng “binh binh".


Lần lượt mọi người tiến lên tiến hành “Trát côn” với A Kê, chân hắn bị đ.âm vào mảnh tre bị gãy bắt đầu ch.ảy m.áu. Lúc này “Lạp Đích” chạy đi lấy vũ khí đã quay trở lại đưa cho A Tiến và Chí Vĩ hai gậy sắt. Bọn họ vô cùng hứng khởi dùng tiền xu khắc tên mình lên gậy sắt như v.ũ kh.í của cao thủ võ lâm.


Bởi vì vũ khí quá ít “Lạp Đích” lại đi tìm một gây sắt dài hơn, Tử Kiện cưa nó thành một dài một ngắn, tự dùng một cái còn một cái đưa cho Lạp Đích. Kim Bảo không được chia v.ũ k.hí cho nên lấy xẻng bếp thay thế. Sau khi mọi người chuẩn bị ổn thỏa, A Tiến phát hiệu lệnh "Đến phiên chúng ta trát côn. Đọc đến câu thơ nào, nhắc tới tên ai thì đứa đó đ.ánh nó."


A Tiến dẫn đầu bọn họ theo như trong xã đoàn từng người một đánh A Kê. Chỉ mười mấy câu thơ ngắn ngủi mà lại đánh hết một tiếng đồng hồ. Sau khi Tử Kiện đ.ánh xong hắn còn cởi áo ra dương dương tự đắc bảo mọi người phải nhường cho hắn chụp hình lại. “Gia pháp” đã thi hành cũng gần xong cho nên mọi người ngồi xuống nghỉ ngơi hút thuốc.


Sau đó A Tiến quỳ dưới đất mở miệng “Nhị Ngũ Tử” bắt hắn n.uốt t.àn th.uốc chưa cháy hết. Lúc ấy A Kê đã không còn tri giác gì nữa, chỉ có Trương Đại Khẩu quay phim. Tay của hắn, thân thể, lưng, trên chân đều đầy vết thương, m.áu mũi cũng chảy xuống, các vết m.áu bầm có thể thấy được rõ ràng.


A Cam thấy vậy sợ hết hồn, lập tức dẫn hắn đến nhà vệ sinh rửa mặt để hắn tỉnh táo lại, cuối cùng A Kê cũng tỉnh lại."Van xin mày, tao không chịu nổi nữa, nói bọn nó bỏ qua cho tao đi!" A Kê dùng giọng nói khàn khàn yếu ớt cầu xin A Cam.


A Cam nói với A Tiến: "Không ổn rồi! Đừng đánh nữa” A Cam vốn định mang A Kê đi để tránh xảy ra đại họa, đáng tiếc A Tiến không chịu còn châm biếm hắn là "Đồ đàn bà" vì vậy A Cam tức giận bỏ đi.


"Mày phải nói xin lỗi với từng người." A Tiến nói với A Kê.


A Kê vì để bảo vệ tính mạng dĩ nhiên nghe theo lời hắn xin lỗi. Ai ngờ còn chưa nói xong A Tiến đã dùng sức đ.á một cái về phía hắn, A Kê bị đá từ trước giường bay đến tận tủ giày. A Kê khi đó đã chống đỡ hết nổi ngã nhào xuống đất, Gia Hào thuận tay cầm lên một cái chân ghế gãy nói với người kế bên: "Để tao dạy tụi mày cách đ.ánh".

"Đừng" A Kê gào lên. Lời còn chưa dứt, chân ghế đã đ.ánh một cái "bốp" xuống xương chậu của hắn. A Kê đau đến mức co rút thành hình chữ S trên mặt đất, nhìn giống như con cá giãy giụa trước khi ch.ết. Trí Vĩ cũng cầm chân ghế đ.ánh cùng chỗ.


Không bao lâu sau, cuối cùng cũng có người phát hiện A Kê đã mất đi tri giác vì vậy đã kéo hắn vào nhà vệ sinh dùng nước xả vào đầu hắn, nhưng bọn chúng không vì thế mà dừng tay.


"Tôi không phải h.ận th.ù gì A Kê, tôi muốn đánh nó là bởi những người khác cũng đánh nó. Lúc bọn họ đánh nó nhìn rất vui vẻ, người nào cũng hi hi ha ha... Vừa đánh, vừa cười, lại vũ nhục nó... dường như ai cũng đánh hắn. Nhìn thấy người không liên quan cũng đ.á hắn, tôi bắt đầu thấy hưng phấn" Một trong chúng Hoàng Kim Bảo kể lại tâm trạng lúc đó.


Sau đó thuốc lá trong nhà Trần Mộc Thanh hết, bọn họ muốn A Kê bỏ tiền ra mua hỏi hắn ví tiền để ở đâu mới phát hiện hắn đã không nói được nữa hơn nữa cơ thể còn lạnh như băng lúc này bọn chúng mới biết mình đã "chơi quá tay". Hắc Tử muốn lay hắn tỉnh nhưng A Kê không phản ứng mới lấy một cây chổi đ.ánh mạnh vào đầu hắn, đánh đến mức cây chổi gãy luôn hắn vẫn không nhúc nhích. Bọn họ lúc này mới bắt đầu cấp cứu cho hắn, học mấy người cứu hộ mang hắn lên giường làm hô hấp nhân tạo, lại tản ra cho không khí lưu thông.


Mọi người bắt đầu sốt ruột, Trí Vĩ đứng trước bức tượng Quan đế dáng vẻ như đang dâng hương cầu nói: "Xin Phù hộ cho huynh đệ của tôi đừng ch.ết" Tử Kiện giật lấy điện thoại của Lạp Đích muốn báo cảnh sát nhưng bị A Tiến ngăn cản.


Lúc này Lạp Đích mới vội vàng gọi điện cho bạn bè tìm bác sĩ chợ đen nhưng đáng tiếc mọi chuyện đã quá trễ, hô hấp của A Kê ngày càng yếu ớt sau 3 giờ đồng hồ bị ngư.ợc đ.ãi cuối cùng cũng đã t.ử v.ong.


◼️ Bản án dành cho kẻ thủ ác

Sau vụ việc Trần Mộc Thanh người bị băng đảng b.ắt n.ạt, đã báo cáo với cảnh sát (người đàn ông này cũng là nhân chứng của vụ án). Sau khi điều tra, cảnh sát đã bắt giữ 14 thiếu niên liên quan đến vụ án và buộc tội họ gi.ết ng.ười, gây thương tích nghiêm trọng và xử lý t.hi th.ể bất hợp pháp.


Sau khoảng một năm, vụ án đã được xét xử vào tháng 1 năm 1999. Trong vụ án bị cáo Thạch Tử Kiện đã trở thành nhân chứng giúp cảnh sát phá án. Kết quả là sáu thủ phạm chính bị kết tội m.ưu s.át thành lập trong đó bốn người trong số họ bị kết án tù chung thân. Cho đến giữa tháng 7 năm ngoái, sáu bị cáo đã kháng cáo lật lại bản án.


Kết quả bị cáo thứ ba Mạch Gia Hào đã lật lại án thành công đổi từ tội gi.ết ng.ười thành đả thương người nghiêm trọng, đổi từ hai mươi sáu năm tù thành bảy năm tù. Bốn nghi phạm khác bị kết án t.ù chung thân đã đổi sang t.ù giam có thời hạn bởi thẩm phán Vương Kiến Thu với thời hạn giam giữ tối thiểu từ 22 đến 25 năm.


Thẩm phán Vương Kiến Thu người phụ trách vụ án mô tả hành vi lạm dụng trẻ em trong bản án là một t.ội .ác khủng khiếp và đã chỉ ra rằng hành vi của băng đảng này là đ.ộc á.c, không tính người, vô cùng t.àn nh.ẫn và b.ạo l.ực. Ông cũng nói rằng thủ lĩnh của vụ án này Phó Hiển Tiến là một thanh niên nguy hiểm, không có tính người hết thuốc cứu chữa. Một đồng phạm khác Hoàng Kim Bảo, người bị kết án gi.ết ng.ười nói trước khi bị giam giữ rằng cái ch.ết của Lục Chí Vĩ là nằm ngoài dự đoán của hắn. Bởi vì Trần Mộc Thanh cũng từng bị mọi người đánh trước đó nhưng vẫn có thể sống nên bọn họ chỉ xem đây là một trò chơi kích thích mà thôi.


Năm 2007 Lưu Bội Nghi nữ bị cáo của vụ án Tú Mậu Bình đã nh.ảy lầ.u t.ự s.át ở tuổi 25. Bức thư tuyệt mệnh để lại ở nhà cho thấy cô đau khổ vì thất nghiệp và thất tình nên đã quyết định lựa chọn quyên sinh. Cô gái có cha qua đời lúc 5 tuổi đã được mẹ và em trai 3 tuổi kéo lại. Khi vụ án phát sinh cô còn chưa đầy 15 tuổi bị phán quyết tội danh đả thương người nghiêm trọng, cũng theo luật bị xử ở t.ù 3 năm. Sau khi tuyên án, Lưu từng làm PG quán bia sau đó thất nghiệp t.ự s.át.


Năm 1999 vụ án đã được dựng lại thành phim điện ảnh “Quần tam tụ ngũ” do Tống Bản Trung, Trần Chỉ Tinh, Lý Kiện Nhân và Lâm Tử Thiện đóng chính. Tên phim được lấy từ câu tục ngữ của Hồng Kông “Tụm năm tụm ba, không đứa nào tốt” như là hồi chuông cảnh tỉnh các bậc làm cha mẹ nên quan tâm đến giáo dục thanh thiếu niên, quan tâm đến tâm sinh lý ở cái tuổi dễ bị kích động tránh gây nên một bản án đau lòng tương tự.


Cre: weibovietnam/ tổng hợp từ lieqidao, jianshu


Dịch bởi: Tố Nhi

Share:
Main Ad ➤ Click "VÀO ĐÂY" Doanh nhân và Thương hiệu ASEAN luôn cập nhật

Quốc Gia Truy Cập

Flag Counter

Bài đăng nổi bật

Cách đưa Webite lên Index

  Để đưa một website lên Google Index (xuất hiện trên kết quả tìm kiếm), bạn cần thực hiện theo quy trình chuẩn gồm 4 bước chính sau đây. 1....

Bài mới đăng

Flag Counter

Lưu trữ Bài viết

Tổng số lượt xem trang

Ủng Hộ Chúng Tôi

Lưu trữ Blog

Liên hệ Nhà thơ Hoàng Huy

Tên

Email *

Thông báo *

Cho Đặt Banner Quảng cáo

Like Fanpage Phong Thủy để cập nhật các thủ thuật mới nhất mỗi ngày OK Để sau