Luật Gia. Liz Quiehui có tên thật là Hoàng Quốc Huy, tên phiên âm là Lý Thu Tuệ

Blog

Main Ad ➤ Click "VÀO ĐÂY" Doanh nhân và Thương hiệu ASEAN luôn cập nhật

Mười bốn đại giới căn bản của Mật giáo

 


Mở đầu: Thứ tự của giới luật và hỏi đáp

Bởi có người hỏi về vấn đề thứ tự của giới luật, cho nên hôm nay chúng ta sẽ nói một cách đơn giản về giới. Đương nhiên giới luật của Phật giáo lấy Ngũ giới làm cơ sở, chúng ta đều biết Ngũ giới chính là sát sinh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ, uống rượu. Ngũ giới chính là giới luật căn bản nhất của Phật giáo, thật ra giới luật của bản thân Tiểu thừa cũng lấy Ngũ giới làm chủ yếu nhất.

Sau khi có giới của Tiểu thừa rồi thì tiến vào giới Đại thừa. Thật ra giới Bồ Tát nên là cao nhất, trong đó bao gồm giới Lục độ. Cái gọi là giới Lục độ chính là Lục độ mà bình thường chúng ta vẫn nói, tức là phải làm công tác lục độ, liên tục cho đến khi đạt đến Lục độ vạn hành. Lục độ vạn hành tức tương đương với Bồ Tát Đại thừa.

Tiến vào bên trong Mật giáo thì phải giữ “Sự sư pháp ngũ thập tụng” [50 quy tắc ứng xử giữa thầy trò]. Thật ra “Sự sư pháp ngũ thập tụng” trong Mật giáo gọi là Sự giới… tức là làm sao để thừa sự Thượng sư, làm sao để thừa sự Phật Bồ Tát, cái này thuộc về Sự pháp. Tiến thêm một bước nữa chính là 14 đại giới của Mật giáo, là thuộc về Hành bộ. Các giới này đặc biệt nói rằng ngoài phụng sự Phật, phụng sự thầy ra thì còn phải tu hành ra sao, làm thế nào đối diện với việc tu hành, vì thế gọi là Hành bộ. Cho nên 14 đại giới căn bản này cũng thuộc về giới luật của Hành bộ.

Đệ tử quy y của Chân Phật Tông nhất định phải giữ năm giới, đây là giới mà mọi hành giả Phật giáo đều phải giữ. Sau khi có được căn bản của năm giới rồi, tự mình muốn nhận thêm Bát quan trai giới hoặc Bồ Tát giới thì đó là chính bản thân bạn phát tâm Bồ Tát Đại thừa. Còn như tông phái chúng ta thuộc về Mật giáo, đầu tiên nên giữ hai giới, một là giới Sự bộ, tức là “Sự sư pháp ngũ thập tụng”, tức là làm thế nào để thừa sự thầy; tiếp đó là 14 đại giới Mật giáo, thuộc về giới Hành bộ, đây là giới thứ hai căn bản nhất của Mật giáo.

(Trích từ chương 012 - Thứ tự của giới luật, cuốn 667 “Chân Phật Tông Giới Luật Mật Thừa”.)

🌟

Hỏi: Cái gì là giới luật?
Đáp:
“Đại Thừa Nghĩa Chương” có viết:
”Gọi là sila, cái tên gọi này rất thanh mát, cũng gọi là giới. Tam nghiệp như lửa cháy thiêu đốt con người, các sự việc giống như lửa cháy, giới có thể phòng ngừa và ngăn chặn, vì thế mới nói là thanh mát, cái tên thanh mát, cũng có nghĩa là che lại, có thể phòng và chặn, do vậy gọi là giới.”

Giới luật chính là phòng ngừa và ngăn chặn tín đồ Phật giáo đi vào con đường sai trái tà ác.

Hỏi: Công dụng của giới luật là gì?
Đáp:
Trước tiên chúng ta hãy hiểu bốn tướng của giới luật:
Giới pháp — Là luật pháp mà Như Lai đã chế định ra.
Giới thể — lĩnh nạp giới pháp vào tâm, sinh ra công đức phòng tránh cái sai và ngăn chặn cái ác.
Giới hành — cùng với giới thể mà hành động và làm việc như pháp gọi là giới hành.
Giới tướng — sự khác biệt giữa hành vi cử chỉ, giới có năm giới, mười giới, thậm chí hai trăm năm mươi giới.

Từ đây, chúng ta có thể hiểu: công dụng của giới luật chính là công đức phòng tránh cái sai và ngăn chặn cái ác.

Liên Sinh Thánh Tôn cho rằng có ba công dụng:
1. Tránh xa mọi phi pháp tà ác.
2. Thu hút và tích lũy thiện phúc, chứng ngộ Như Lai.
3. Lợi lạc tất cả hữu tình.

Hỏi: Ba thứ giới-định-huệ có liên hệ thế nào?
Đáp:
Phòng và chặn ác là giới, ngừng nghĩ tịnh duyên là định, phá ác chứng chân là huệ.
Từ giới mới sản sinh định, từ định mới sản sinh huệ. Đây chính là nhất giới, nhị định, tam huệ, tứ giải thoát, ngũ giải thoát tri kiến, đây là năm phần pháp thân.

(Trích từ chương 06 - Nghi quỹ giới luật, cuốn số 81 “Chân Phật Nghi Quỹ Kinh”.)

🌟

Hỏi: Chân Phật Tông là Mật thừa, Mật thừa lại có giới luật gì?
Đáp:
Mật thừa tổng cộng có 14 điều giới luật căn bản, bất kì điều nào cũng đều có thể phá hủy mối quan hệ thần thánh giữa hành giả Chân Phật và Liên Sinh Thánh Tôn, có nghĩa là khiến cho hành giả quy y quán đảnh chỉ có được hình thức quy y quán đảnh mà không có được lực gia trì của Thượng sư và Bổn tôn.

Hỏi: Giới luật học cũng là một môn học lớn, trong đó còn có quy tắc gì không?
Đáp:
Trong Phật môn có rất nhiều giới luật, đương nhiên cũng có rất nhiều quy tắc không nằm trong giới luật, đó là một dạng quy tắc được cùng quy ước khi tu học một tông phái, những quy tắc này được biến đổi từ đạo đức của giới mà ra.

Đệ tử Chân Phật Tông chúng ta cùng giữ các quy tắc này, như vậy quy tắc mới có thể trở thành tiêu chuẩn, hình thành nên một tông phái hoàn mỹ, một đoàn thể hoàn mỹ.
Như vậy mới là:
Nghiêm túc.
Kính cẩn.
Như pháp.

01. Giới thiệu vắn tắt về Liên Sinh Hoạt Phật

Người sáng lập Chân Phật Tông - Giới thiệu vắn tắt về Liên Sinh Hoạt Phật.

Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn thực tu dựa theo thứ tự Chân Phật Mật Pháp mà đạt được tức thân thành Phật. Bởi vì đã đích thân chứng thành tựu Phật quốc Tây phương Cực Lạc thế giới Ma Ha Song Liên Trì, do vậy ngài đã phát lời nguyện to lớn, thề nguyện phân thân xả cốt độ chúng sinh. Ngài là một trong những đại thành tựu giả của Mật giáo đương đại.

Trong hành trình tu hành hơn 30 năm của mình [tính đến thời điểm năm 2024 là hơn 50 năm], Liên Sinh Hoạt Phật đã chỉnh lý và dung hợp những Mật pháp tu hành rất sâu thành những nghi quỹ Chân Phật Mật Pháp thuận lợi đáp ứng thời đại, thích hợp với người tu hành hiện đại.
Cho đến năm 2024, ngài đã xuất bản số lượng khổng lồ với 300 cuốn sách Phật học để hoằng dương Phật pháp, dẫn độ những người hữu duyên.

Hiện tại đã có hơn 5 triệu người quy y [tính đến năm 2024, số đệ tử quy y Chân Phật Tông đã vượt xa 5 triệu, nhưng trong các văn bản suốt vài chục năm vẫn luôn ghi con số 5 triệu, có tính tượng trưng, với ý nghĩa là rất nhiều], phân bố ở khắp nơi trên thế giới, đã thành lập hơn 400 trung tâm hoằng pháp ở nhiều nơi. Rất nhiều Hoạt Phật Tây Tạng và đại pháp sư Hiển giáo cũng đều quy y dưới Phật môn của Liên Sinh Hoạt Phật, tu trì Chân Phật Mật Pháp.

Chân Phật Tông lấy việc hoằng dương Chân Phật Mật Pháp, chỉ dẫn chúng sinh y pháp tu hành, thực tu theo thứ tự từ Tứ gia hành, Thượng sư tương ứng, Bổn tôn pháp, Bảo bình khí, chuyết hỏa, thông trung mạch, mở ngũ luân, ngũ kim cương pháp, Vô thượng mật, Đại viên mãn mà đạt đến tôn chỉ “minh tâm kiến tính, tự chủ sinh tử”.

02. Ngũ giới

Ngũ giới:

1. Không sát sinh — từ tâm thương vật, không giết sinh vật. Càng tích cực phóng sinh.

2. Không uống rượu — không uống rượu ở đây là chỉ không say rượu, không vì rượu mà loạn nhân tính.

3. Không tà dâm — quan hệ tình dục ngoài vợ chồng chính là tà dâm.

4. Không hai lưỡi — không đâm bị thóc chọc bị gạo, phạm khẩu nghiệp, phỉ báng chính nhân chính pháp đều là phạm vào nghiệp này.

5. Không trộm cắp — không phải đồ của mình không được trộm cắp.

03. Giải thích Ngũ giới

Đệ tử Chân Phật Tông hiện tại đã có hơn một trăm nghìn người trên khắp thế giới, đệ tử quy y đến từ nhiều nước khác nhau, con số này tôi có được từ số lượng chứng thư quy y. [Con số 100.000 là tính tới thời điểm Sư Tôn thuyết giảng 14 giới luật này vài chục năm trước.] Mỗi ngày đều có người quy y, đích thân đến Mỹ nhận quán đảnh quy y, hoặc viết thư thỉnh cầu quán đảnh quy y từ xa. Tôi tin rằng trong vòng vài năm ngắn ngủi, con số này chắc chắn sẽ nhân lên gấp mười lần trăm lần.

Rất nhiều đệ tử Chân Phật Tông sau khi quy y hỏi tôi rằng Chân Phật Tông phải giữ giới luật gì? Trên chứng thư quy giới chúng tôi viết như thế này: “Từ đây hãy theo ý chỉ của Phật. Nhất tâm quy y Phật môn. Nhận lễ minh sư. Quy y Liên Sinh Pháp Vương. Nguyện cho đến hết thọ mạng phụng sự ý chỉ của Phật và hành thiện. Nguyện cho đến hết thọ mạng phụng sự pháp và giữ giới. Nguyện cho đến hết thọ mạng tận hiến với đất nước. Hiếu thuận cha mẹ. Lễ kính sư trưởng đồng môn. Một đời một kiếp. Phụng hành không khác. Đặc biệt chuẩn bị sớ văn này dâng biểu. Thiên thượng địa hạ chư Phật Bồ Tát cùng soi xét.”

Đầu tiên phải nói đến là giới luật Chân Phật Tông, cái gọi là “nguyện cho đến hết thọ mạng” tức là sẵn sàng dành hết tất cả sức lực và tuổi thọ của mình để phụng trì chính pháp, giữ nghiêm giới luật. Giới luật này chính là Ngũ giới của Phật pháp, Chân Phật Tông chúng ta là chính tông, là chính pháp của Phật pháp, cho nên phải giữ Ngũ giới của chính pháp. Ngũ giới này là:

1. Không sát sinh — từ tâm thương vật, không giết sinh vật. Càng tích cực phóng sinh.

2. Không uống rượu — không uống rượu ở đây là chỉ không say rượu, không vì rượu mà loạn nhân tính.

3. Không tà dâm — quan hệ tình dục ngoài vợ chồng chính là tà dâm.

4. Không hai lưỡi — không đâm bị thóc chọc bị gạo, phạm khẩu nghiệp, phỉ báng chính nhân chính pháp đều là phạm vào nghiệp này.

5. Không trộm cắp — không phải đồ của mình không được trộm cắp.

Đây là giới luật căn bản nhất của Chân Phật Tông, cũng là giới luật căn bản nhất của Phật pháp. Đệ tử Chân Phật cũng là đệ tử Phật, đương nhiên phải giữ năm giới này. Ngoài ra, tu hành chính pháp Phật môn, hiếu dưỡng cha mẹ, lễ kính sư trưởng, tôn kính đồng môn, đây là căn bản làm người, vậy đương nhiên phải làm được, ngay đến điều này mà không làm được thì xin tự động gửi trả lại chứng thư quy y cho Thượng sư. Bởi vì đệ tử không giữ giới luật như vậy là không như pháp, cho dù có quy y Chân Phật Tông nhưng chưa phụng pháp trì giới thì cũng không khác gì vô dụng, giữ lại một tờ giấy chứng thư quy y cũng chỉ như giấy loại mà thôi.

Phàm là đệ tử Chân Phật giữ năm giới làm mười điều thiện, tôi chúc phúc các đệ tử này, một là không có kẻ thù, rời xa tất cả bệnh tật, tuổi thọ kéo dài và cát tường an lạc. Hai là, người trong gia đình hòa hợp vui vẻ không tranh giành, rời xa mọi sự nịnh nọt, ai ai cũng nhận được sự kính trọng của người đời. Ba là, mọi đệ tử có trì giới hành thiện không ai gặp tai nạn ngoài ý muốn, không có cái chết đột ngột. Bốn là, phàm là người trì giới hành thiện, chư Thiên thường xuyên che chở bảo vệ, khiến các đệ tử quy kính Tam Bảo, đều nguyện tu tập hạnh bồ đề. Năm là, ruộng phúc viên mãn.

Do bởi thế nhân chưa hẳn toàn là Thánh hiền, vì thế tất nhiên sẽ có người phạm giới, người phạm giới nếu có tâm sám hối thì phải tu pháp sám hối. Phát nguyện các nghiệp tội đã làm trước kia, ở trước mặt chư Phật và Thượng sư phải thành tâm phát lộ sám hối.

Tội lỗi trong đời người rất nhiều, muốn kể ra cũng không thể kể hết, ví dụ rất nhiều người về cơ bản là không tin nhân quả, cũng không tin báo ứng, mở miệng ra là “Tôi không tin cái gì hết!”, những người mà cái gì cũng không tin này chính là những kẻ tự kiêu cao ngạo, rất dễ phóng dật [Phóng dật là lối sống buông thả phóng túng theo dục vọng, không có tiết độ, không biết tự giới hạn và kiềm chế bản thân, sống xả láng không cần biết ngày mai.], sẽ càng tạo thêm nghiệp ác.

Người đời ít Thánh hiền, lắm kẻ ngu, tất cả hành vi thường chịu sự trói buộc của vô minh, một khi kết giao với bạn xấu thì rất dễ theo duyên đó mà đi xuống, vì thế người đời giao kết bạn bè phải đặc biệt cẩn thận, bạn bè có rất nhiều tập khí xấu thì ít qua lại với họ, bởi vì một lần theo họ thì sẽ trồng cái gốc cho những lần tiếp theo thuận theo họ, như vậy thì cũng rất dễ tạo mọi ác nghiệp.

Lòng tham cũng là một trong những tập tính của nhân loại, chủng tử tham lam là sự mê hoặc số một ảnh hưởng con người đi về hướng nghiệp tội, ví dụ tham sắc, sắc đẹp thì ai ai cũng yêu thích, người không nên tham lam cũng muốn đi thử chạm một chút, chủng tử tham này sẽ gây phiền phức rầy rà cho người ta, hành giả tu trì phải dùng phương pháp quán không và bất tịnh để chuyển dời suy nghĩ tham sắc. Nếu không tu tập như vậy thì ngay cả lão hòa thượng, lão đạo sĩ cũng vẫn đêm đêm mộng giấc xuân như thường, đêm đêm “đi tiểu trộm”. Không tham hai chữ mỹ sắc này mới xem là người tu chân tồn đức, nếu có hành vi tham sắc, vậy thì đúng là tạo nghiệp tội lớn. Tham tiền cũng như vậy, con người vì tiền mà chết, chim vì tham ăn mà chết, ngoài những gì mà mình đáng được có ra thì tham tiền chính là chủng tử của phiền não, hành giả tu trì phải học tập “tri túc thường lạc”, có tri túc thường lạc rồi mới không có dục vọng tham tiền, đây chính là không tham lam vật phẩm tự mình sẽ là người thanh cao.

Lại vì đố kỵ mà đi nịnh bợ hãm hại người khác, trong lòng cũng thường phiền não.

Còn có nghiệp tội nghiêm trọng hơn là năm tội phản nghịch. Ví dụ phá hoại tháp Phật hoặc chùa Phật, đốt kinh điển sách thiện, phá hủy tượng Phật, lấy trộm tài vật của Tam Bảo. Phỉ báng Phật pháp, sỉ nhục Thánh giáo, bức hại người tu trì chính pháp. Giết hại cha mẹ, làm thân Phật chảy máu, phá hòa hợp tăng, giết A La Hán. Không màng đến nhân quả, thường làm mười nghiệp bất thiện, đây chính là năm tội phản nghịch rất nghiêm trọng.

Những người phạm vào nghiệp tội này phải nhanh chóng sám hối, quảng thuyết chính pháp, lợi ích thiên hạ quần sinh, dùng chính pháp để hàng phục tâm ma của chính mình, chuyển đại pháp luân, dùng pháp sáu ba-la-mật để loại bỏ mười nghiệp đại bất thiện, hàng phục tham dục, sân dục, si dục, phiền não và mọi khổ đau đều sẽ được đẩy lùi, khiến tự tính tỏa sáng và đạt viên mãn.

Đệ tử Chân Phật Tông khi có được đại trí huệ túc mệnh, có thể nhớ lại được trăm nghìn kiếp, có thể ngày ngày tu trì chính pháp chính giáo mà Như Lai đã truyền xuống, làm mọi thiện nghiệp tùy duyên, phụng sự vị Thượng sư thù thắng nhất, rời xa tất cả mọi điều bất thiện, cứu giúp bảo vệ chúng sinh mang tội khổ, cấp tốc chứng vô thượng đại bồ đề.

Muốn tu pháp sám hối, có năm mục quan trọng:

1. Thỉnh Phật làm chứng:

Phải phụng thỉnh Vô Lượng Thọ Phật, Thắng Quang Phật, Diệu Quang Phật, A Súc Phật, Công Đức Thiện Quang Phật, Sư Tử Quang Minh Phật, Nhật Quang Minh Phật, Võng Quang Minh Phật, Bảo Tướng Phật, Bảo Diễm Phật, Diễm Minh Phật, Diễm Thịnh Quang Minh Phật, Cát Tường Thượng Vương Phật, Vi Diệu Thanh Phật, Diệu Trang Nghiêm Phật, Pháp Tràng Phật, Thượng Thắng Thân Phật, Khả Ái Sắc Thân Phật, Quang Minh Biến Chiếu Phật, Phạn Tịnh Vương Phật, Thượng Tính Phật. Ở đây là thỉnh ba vị Phật ở phương Tây, năm vị Phật ở phương Đông, năm vị Phật ở phương Nam, tám vị Phật ở phương Bắc. 21 vị Phật này cùng phụng thỉnh và quán tưởng các vị đến và trụ trong không trung, trở thành những vị làm chứng cho việc sám hối của bạn.

2. Phóng quang tiêu chướng:

Uy lực của 21 vị Phật này có thể khiến người đã làm mọi ác nghiệp có thể diệt tội được phúc, đó là công đức chân thực của 21 vị Phật. Người tu trong lúc tĩnh lặng nhớ nghĩ đến 21 vị Phật đến trụ trong hư không, lần lượt từng vị Phật từ những lỗ chân lông trên người phóng ra vô lượng ánh sáng, có trăm nghìn loại màu sắc ánh sáng. Đầu tiên ánh sáng từ trong lỗ chân lông của các vị Phật phóng ra, sau đó tỏa sáng mạnh mẽ, sau đó đan xen thành vô lượng màu sắc. Khi ánh sáng chiếu ra thì các sát thổ của mười phương thế giới đều biến thành Phật quốc, còn bản thân cũng an trụ trong thế giới ánh sáng đó. Mọi ngũ trọc ác thế đều được Phật quang chiếu tới. 21 vị Phật này phóng ánh sáng chiếu khắp, hễ chiếu tới uế quốc thì sẽ hóa thành Phật quốc. Ánh sáng này chiếu tới mọi chúng sinh, khiến mười ác nghiệp của mọi chúng sinh, năm tội vô gián, người phỉ báng Tam Bảo, bất kính với thầy, bất hiếu với cha mẹ, lẽ ra phải đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, thì nay đều có được ánh sáng của 21 vị Phật mà được lộc giải thoát. Ánh sáng chiếu đến chính mình, khiến ác nghiệp của bản thân tiêu trừ, vì có được sức mạnh bao trùm của Phật quang mà đều được an lạc, đoan chính, đầy đủ mọi phúc huệ, trang nghiêm như Phật, được thấy tất cả chư Phật của thập phương tam thế.

3. Xưng danh trì chú:

Nếu người tu trì nhìn thấy ánh sáng thì phải thành tâm xưng niệm tên của 21 vị Phật hai lần, sau đó trì Thất Phật diệt tội chân ngôn: “Li-pô, li-pô-tê, ki-ô, ki-ô-tê, tô-lô-ni-tê, ni-a-la-tê, pi-li-ni-tê, mua-hưa-ki-a-tê, chân-linh, chiên-tê, sô-ha.” Trì chú này tổng cộng 108 biến đến 1080 biến.

4. Quán tưởng thủ ấn:

Tay trái nắm lại đặt tại eo. Tay phải mở ra, năm ngón tay đặt bằng nhau, giống như sáng sáng ngũ sắc đều tự nhiên phóng ra, bàn tay đặt ở giữa ngực.

5. Hồi hướng sám hối:

Nghiệp chướng mà mình đã tạo ra trong nhiều kiếp lẽ ra phải đọa vào trong ác đạo địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, hoặc cảnh giới atula, hoặc thậm chí ở tám nơi khó sống, đều vì con tu tập chính pháp hồi hướng, nên mọi nghiệp chướng đều được tiêu diệt, mọi ác báo sau này sẽ không phải chịu. Cũng như ngày xưa các đại Bồ Tát tu hạnh bồ đề, mọi nghiệp chướng đều sám hối toàn bộ, nghiệp chướng của con cũng đều phát lộ sám hối tất cả, không dám có điều gì che giấu không kể. Hiện tại toàn bộ tội được tiêu trừ, sau này những việc ác không dám tái phạm. Đặc biệt phụng thỉnh 21 vị Phật làm chứng.

Tu trì pháp này chính là pháp Linh Tiên căn bản sám hối, người tu trì pháp này cũng có được sự gia trì của pháp Tứ gia hành và Thượng sư tương ứng, tất cả làm theo nghi quỹ, tự nhiên có thể giải thoát tội chướng, được phúc vô lượng.

04. 14 đại giới căn bản của Mật giáo

14 điều vi phạm căn bản:

Điều 1: Thân khẩu ý không cung kính đối với Thượng sư.

Điều 2: Không tuân thủ quy tắc và lễ nghi Hiển-Mật.

Điều 3: Khởi tâm oán hận và tranh giành đối với anh em huynh đệ kim cương đồng tu.

Điều 4: Đánh mất lòng từ bi, đố kỵ với niềm vui của chúng sinh.

Điều 5: Ngại khó mà không độ chúng sinh, đánh mất bồ đề tâm.

Điều 6: Phỉ báng kinh điển Hiển-Mật không phải do Phật thuyết.

Điều 7: Dạy Mật pháp khi bản thân chưa được quán đảnh làm Thượng sư và chưa có đủ uy tín.

Điều 8: Làm tổn hại người khác, tự làm khổ bản thân là không như Phật.

Điều 9: Thiên vị giữa Không và Hữu, không học tâm Không.

Điều 10: Làm bạn bè với kẻ phỉ Phật phá pháp và làm hại chúng sinh.

Điều 11: Khoe khoang pháp thù thắng mà quên mất ý nghĩa sâu xa.

Điều 12: Không nói những điều gây trở ngại và phá hoại thiện căn tu Mật pháp chân thật của người khác.

Điều 13: Pháp khí và tài liệu Mật pháp không hoàn thành.

Điều 14: Phỉ báng tự tính trí huệ của nữ giới.

05. Giải thích về 14 đại giới căn bản của Mật giáo

Điều 1: Thân khẩu ý không cung kính đối với Thượng sư.

Giải thích: Vì Thượng sư thay Phật truyền pháp, là một thể Tam Bảo, Mật giáo lấy thầy làm quy y đầu tiên, bình thường phải xem thầy như Phật. Cho nên đệ tử trước khi quy y phải tìm hiểu kĩ về vị thầy, để tránh sau khi quy y xong thì hối hận, trở thành có thân khẩu ý bất kính đối với thầy. Một khi đã quy y rồi thì phải kính trọng thầy, như vậy mới có công đức, mới có thành tựu Phật pháp. Nếu phỉ báng thì sẽ phạm vào điều thứ nhất của 14 đại giới căn bản của Mật giáo, đọa vào địa ngục kim cang.

Nếu sau khi quy y thầy mà thật sự biết rằng đây là một vị thầy giả, không có hành vi tu hành Phật pháp chân chính, có thể cách xa người thầy này, sau đó quy y vị thầy chân chính, nhưng đối với người thầy ban đầu tốt nhất cũng không được phê bình phỉ báng, như vậy mới vẫn có thể xem là đệ tử Kim cương thừa.

Điều 2: Không tuân thủ quy tắc và lễ nghi Hiển-Mật.

Giải thích: Giới luật của Hiển giáo Mật giáo có rất nhiều, đó là các quy tắc để phóng tránh và ngăn chặn các tín đồ Phật giáo làm những hành vi tà ác, ví dụ ngũ giới, thập thiện, thậm chí là 250 giới đều có cả. Sức mạnh có được từ việc giữ giới chính là uy lực, đệ tử Mật giáo Kim cương thừa thì các quy tắc và lễ nghi Hiển-Mật đều phải giữ mới được.

Điều 3: Khởi tâm oán hận và tranh giành đối với anh em kim cương.

Giải thích: Giữa đồng môn với đồng môn, hoặc giữa đồng môn với môn đồ phái khác, đều là Kim cương thừa, không được khởi tâm oán ghét hoặc tranh đấu. Vì thế Chân Phật Tông có lễ kính đồng môn, tôn kính thượng sư, đặc biệt quan trọng.

Điều 4: Đánh mất lòng từ bi, đố kỵ với niềm vui của chúng sinh.

Giải thích: Đệ tử Kim cương thừa phải có tâm từ bi, không được đố kỵ.

Điều 5: Ngại khó mà không độ chúng sinh, đánh mất bồ đề tâm.

Giải thích: Dùng tâm từ bi để độ chúng sinh, cho dù người đại ác cũng đều phải độ hóa họ, không sợ khó khăn, không được rút lui, vì chúng sinh đều có Phật tính, hãy đi cảm động họ, không thể sợ khó khăn mà đánh mất chính niệm bồ đề, và phát tâm bồ đề chính là đại phát tâm độ hết chúng sinh.

Điều 6: Phỉ báng kinh điển Hiển-Mật không phải do Phật thuyết.

Giải thích: Xã hội ngày nay, có rất nhiều người phỉ báng kinh điển, nói rằng quyển này là kinh giả, quyển kia cũng là kinh giả, khi còn chưa biết rõ thì tốt nhất đừng bình luận ngông cuồng, bởi vì bình luận ngông cuồng chính là phỉ báng, cũng là phạm giới.

Điều 7: Dạy Mật pháp khi bản thân chưa được quán đảnh làm Thượng sư và chưa có đủ uy tín.

Giải thích: Người truyền thụ Mật pháp, chỉ có người có đủ tư cách làm Thượng sư mới có thể truyền thụ Mật pháp, tư cách Thượng sư là phải do Căn bản Thượng sư (vị thầy gốc) cho phép, và nhập vào Tỳ Lô tính hải được Bổn tôn cho phép. Nếu không có hai sự cho phép này, tự xưng là Thượng sư để truyền dạy Mật pháp, gọi là không đủ năng lực quán đảnh và uy tín. Không có quán đảnh, không có uy tín, chưa có được danh hiệu Thượng sư thật, thì không được truyền thụ Mật pháp.

Điều 8: Làm tổn hại người khác, tự làm khổ bản thân là không như Phật.

Giải thích: Kim cương Thượng sư giống như Phật, đệ tử Kim cương thừa chính là Phật tử, cũng là Pháp Vương tử, làm tổn hại người khác, gây đau khổ cho chính mình, tâm đầy ắp ngũ uẩn, đều không hợp với giới luật của Phật.

Điều 9: Thiên vị giữa Không và Hữu, không học tâm Không.

Giải thích: Không và Hữu phải coi trọng như nhau, “không tâm” tức là “vô tâm”, pháp môn này cũng phải tu chứng, không được thiên vị.

Điều 10: Làm bạn bè với kẻ phỉ Phật phá pháp và làm hại chúng sinh.

Giải thích: Điều này có vẻ xung đột với điều thứ năm, thật ra không phải. Chúng ta có thể đi độ hóa kẻ phỉ Phật phá pháp, độ hóa kẻ làm thương hại chúng sinh, nhưng không được đứng trên cùng một chiến tuyến với những kẻ phỉ Phật phá pháp và làm hại chúng sinh, không được giao kết bạn bè và chơi với nhau.

Điều 11: Khoe khoang pháp thù thắng mà quên mất ý nghĩa sâu xa.

Giải thích: Tự mình thường xuyên nhấn mạnh pháp lực của mình là số một, dùng pháp lực để phô trương, đánh mất ý nghĩa vốn có của việc bản thân tu Mật tông là để thành Phật, cứu chúng sinh, phát bồ đề tâm.

Điều 12: Không nói những điều gây trở ngại và phá hoại thiện căn tu Mật pháp chân thật của người khác.

Giải thích: Thượng sư chân chính phải truyền thụ Mật pháp chân chính, nếu không truyền thụ Mật pháp chân chính và không độ tất cả chúng sinh hữu duyên tức là cản trở và phá hoại thiện duyên, là phạm giới.

Điều 13: Pháp khí và tài liệu Mật pháp không hoàn thiện.

Giải thích: Tu mọi pháp, dùng mọi pháp khí, truyền mọi pháp, tài liệu phải đầy đủ, mới không phạm giới.

Điều 14: Phỉ báng tự tính trí huệ của nữ giới.

Giải thích: Đối với nữ giới học đạo, không được phá hoại huệ tính của họ, tức là ý nghĩa bình đẳng quan.

06. Làm sao để quy y Liên Sinh Hoạt Phật

Viết thư xin quy y:

Bởi vì người muốn quy y phân bố ở mọi ngóc ngách trên khắp thế giới, do vậy đích thân đến quy y không dễ dàng. Vì thế, đệ tử muốn quy y chỉ cần vào ngày mồng 1 hoặc ngày 15 âm lịch hàng tháng, vào lúc 7 giờ sáng, quay mặt về phía mặt trời mọc và chắp tay lại, cung kính đọc chú Tứ quy y: “Namo guru bei, namo buddha ye, namo dharma ye, namo sangha ye. Liên Sinh Hoạt Phật chỉ dẫn, quy y Chân Phật Tông.” Đọc 3 lần. Vái lạy 3 lần.

Đệ tử làm nghi thức tại nhà mình xong thì phải viết thư, ghi rõ họ tên, địa chỉ, tuổi thật của mình, tùy ý gửi kèm thêm một khoản phí cúng Phật, trong thư chú thích rõ là “Xin quán đảnh quy y”. Sau đó gửi đến Chân Phật Mật Uyển ở Mỹ.

Địa chỉ Chân Phật Mật Uyển - Liên Sinh Hoạt Phật Lư Thắng Ngạn:

Grand Master Sheng-yen Lu
17102 NE 40th Ct.
Redmond, WA 98052, USA.

Tel: 425-885-7573
Fax: 425-883-2173

Bên phía Liên Sinh Hoạt Phật vào mỗi ngày mồng 1 hoặc 15, đều cử hành nghi thức quán đảnh cách không tại Chân Phật Mật Uyển để quán đảnh từ xa cho những đệ tử không thể tự mình đến. Sau đó sẽ gửi chứng thư quy y và một tấm ảnh pháp tướng của Thượng sư đến cho mọi người, đồng thời chỉ dẫn bắt đầu tu từ pháp nào. Như vậy là đã có được truyền thừa của Liên Sinh Hoạt Phật.

Tự mình đến quy y:

Trước tiên cần liên lạc để hẹn thời gian, có thể đến Chân Phật Mật Uyển tại thành phố Redmond Seattle ở Mỹ, hoặc các đơn vị hoằng pháp sở tại của Liên Sinh Hoạt Phật, để do chính Liên Sinh Hoạt Phật quán đảnh quy y, hoặc thỉnh cầu trợ giúp quy y từ các phân đường Chân Phật Tông ở địa phương. (Các phân đường Chân Phật Tông phân bố trên toàn thế giới.)

Hết.


Share:

NHỮNG GIỚI LUẬT CỦA TU HÀNH MẬT TÔNG KIM CƯƠNG THỪA VÀ GIỚI LUẬT RIÊNG CỦA ĐẠI VIÊN MÃN (PHẦN III)

 

KẾT LUẬN VỀ GIỚI LUẬT CỦA TU HÀNH MẬT TÔNG KIM CƯƠNG THỪA VÀ GIỚI LUẬT RIÊNG CỦA ĐẠI VIÊN MÃN

 

 

Ngài Guru Menla

 

Ngài Panchen Pema Wangyal tóm tắt các giới luật Mật Tông Kim Cương Thừa trong những dòng sau.

Tóm lại, nếu nhận ra chính thân bạn (tức là thân, khẩu, và ý) như ba cửa Vajra (thân, khẩu, và ý của Bổn tôn).

Thì sự tuân thủ hàng trăm ngàn triệu giới luật Mật Tông Kim Cương Thừa đều bao gồm trong nhận biết này.

Có nhiều phạm trù giới luật khác nhau. Những gì tôi đưa ra ở đây chỉ là các giới luật chính nói riêng về Tantra (Mật Tông) và Dzogpa Chenpo (Đại Viên Mãn). Nếu bạn học tập các Tantra khác nhau, thì mỗi Tantra đều có hệ thống giới luật riêng. Nhưng trong bản chất, nếu bạn có và duy trì nhận thức thanh tịnh, thì mọi giới luật Mật Tông Kim Cương Thừa đều được bao gồm trong nó. Thấy mọi hiện tượng như thân Phật, nhận thấy mọi lời nói như Mantra, ngữ thanh tịnh của đức Phật, và nhận ra tâm như tâm giác ngộ của đức Phật là nhận thức thanh tịnh. Nhưng có thể điều này quá thâm sâu với chúng ta. Chỉ có tư tưởng tôn kính đến bất kỳ hiện tượng nào, bất cứ những gì ở trước chúng ta, là nhận thức thanh tịnh. Có loại nhận thức thanh tịnh đó, có một tâm tích cực, bản chất tôn kính và lòng bi gói gọn những giới luật Mật Tông Kim Cương Thừa.

Vào cuối sự thực hiện quán đảnh Longchen Nyingthig, Ngài Kyabje Dodrupchen Rinpoche ban cho chúng ta tinh túy của giới luật để gìn giữ. Ngài nói, “Có nhiều giới luật như mười bốn vi phạm gốc, mà điều quan trọng và cũng dễ thực hiện cho bạn có mối tương quan tốt giữa đệ tử và vị thầy, và mối tương quan tốt giữa chính bạn và người chung quanh, người thân cận bạn. Nếu bạn nổi giận thì đừng biểu lộ. Nếu có người bị bệnh hay trong bất cứ khó khăn nào, hãy cố gắng giúp họ.”

Đây là một cách thiết thực và phổ biến về việc thấy, ứng xử với, và sống bằng giới luật, và nó là giới luật của Tantra. Năm ngoái, khi chúng ta tụ tập vào cuối tuần để thiền định về lòng bi, phần lớn mọi người đều thích và được lợi ích bởi điều này. Nhưng có một số người suy nghĩ rằng lòng bi không phải là Dzogpa Chenpo và điều đó không đủ “cao”, và đó là cảm xúc hoặc không phải cách thực hành truyền thống của Phật giáo Tây Tạng. Loại thiền giả khoa trương ấy cho thấy rằng sự khoan dung của chúng ta sẽ rơi xuống mức thấp như thế nào mặc dù cũng hướng về lòng bi và tụng niệm danh hiệu Đức Avalokiteshvara. Không có dấu vết đại rộng mở của cái thấy Dzogpa Chenpo. Vấn đề là chúng ta không nhìn vào chính mình, chúng ta không thấy mình đứng ở đâu và tình thế của chúng ta là gì. Sống tôn kính là nhận thức thanh tịnh, và lòng bi là sự rộng mở hay tiến trình mở rộng. Sống tôn kính và bi mẫn hướng đến mọi người hay sự vật chung quanh bạn, với người mà bạn cư xử bằng hơi thở và bằng xương bằng thịt, là đặt việc rèn luyện tâm linh vào thực hành cuộc sống thật sự.

Hãy nghĩ về thái độ hay cảm nhận chúng ta có với từng cá nhân. Chúng ta thường cảm thấy: “Tôi tốt hơn vì có nhiều tiền hơn, vị trí cao hơn, đẹp trai hơn, xinh xắn hơn, v.v… Ông hay bà ta thấp hơn tôi.” Thì đó là kiêu mạn. Chúng ta có cảm thấy đau xót tức tưởi, và suy nghĩ: “Ông hay bà ta cao hơn tôi.” Đó là đố kỵ. Nhưng nếu chúng ta suy nghĩ: “Ông hay bà ấy thật hạnh phúc biết bao, tạo được tiến bộ nhiều hơn tôi. Tôi thật hạnh phúc cho họ.” Đó là tâm hoan hỷ. Nó là bằng chứng cho việc thực hành Giáo Pháp của chúng ta có tiến bộ. Nếu trong lúc vẫn giữ mọi cảm xúc tiêu cực trong lòng mà chúng ta lại nói về việc phục vụ toàn thể thế giới hay cho những người ở các châu lục xa xôi, thì người với ý thức đúng đắn có thể sẽ cười vào chúng ta. Nếu thực sự muốn giúp người khác thì trước hết phải bắt đầu với chính chúng ta và sau đó đến người chung quanh mình. Có thể bạn có tư tưởng rằng khi Rinpoche nói hãy kính trọng và tử tế với nhau, điều đó không phải là một giáo lý và không có bất cứ ý nghĩa mật truyền nào, chỉ là đạo đức xã hội. Nhưng nếu chúng ta có thể áp dụng thì nó có hầu hết ý nghĩa của mật truyền. Tử tế và giúp đỡ người khác tiêu biểu cho giới luật của Vinaya, sống kỷ luật về thân. Nó bao gồm giới luật Bồ tát vì có quan điểm lợi ích người khác. Tôn kính tiêu biểu cho giới luật mật tông, có nhận thức thanh tịnh. Do vậy, lòng tốt, giúp đỡ, và tôn kính người khác là tinh hoa của giới luật Mật Tông Kim Cương Thừa.

PHỤC HỒI GIỚI LUẬT BỊ ĐỨT

 

 

Ngài Kim Cương Tát Đỏa - Vajrasattva

 

Nếu chúng ta vi phạm bất cứ giới luật Mật Tông Kim Cương Thừa nào, thì phải làm gì? Chúng ta nên sửa đổi điều này qua thực hành tịnh hóa, như nghi thức Vajrasattva. Bất cứ loại thực hành Ngondro nào, thọ quy y, phát triển Bồ đề tâm, hay cúng dường Mandala sẽ được hùng mạnh trong việc tịnh hóa nghiệp tiêu cực; mà sự tụng niệm và thiền định của Vajrasattva là vô song và đặc biệt trong việc tịnh hóa những dấu vết nghiệp xấu và cảm xúc tiêu cực, giúp phục hồi và làm mạnh mẽ giới luật Mật Tông Kim Cương Thừa của chúng ta. Về việc thực hiện tịnh hóa đó, điều cần thiết là hoàn tất bốn năng lực (sTobs bZhi):

1. Năng lực hỗ trợ (rTen Gyi sTobs). Chúng ta cần ai đó, một lực giác ngộ, để dựa vào. Vì chúng ta có tâm nhị nguyên và đánh giá, để giúp chính mình chúng ta cần một số quyền năng cao hơn để dựa vào. Chúng ta phải tin tưởng vào năng lực hỗ trợ, trong trường hợp này là Đức Vajrasattva.

2. Năng lực hối tiếc (Sun ‘Byin Pa’i sTobs). Chúng ta nên công kích hành động xấu của mình với sự hối tiếc mạnh mẽ về những gì đã làm, giống như người phá hủy chất độc. Nếu không hối tiếc, chúng ta sẽ không muốn tẩy tịnh hành động xấu của chúng ta vì sẽ không cảm thấy có bất kỳ tiêu cực nào bên trong chúng ta. Với một số người, nếu giết một con côn trùng họ sẽ cảm thấy xấu. Với những người khác, ngay cả nếu họ giết nhiều người, có thể họ chỉ cảm thấy tự cao. Khả năng đảo ngược cuộc sống tiêu cực của chúng ta không dựa vào bất cứ những gì ta làm, mà vào cảm giác về việc làm của chúng ta ra sao. Do đó, việc hối tiếc là rất quan trọng trong sự thay đổi quan điểm và tiến trình của cuộc sống.

3. Năng lực cam kết (sDom Pa’i sTobs). Chúng ta nên lập một nguyện, một lời hứa, bằng bất cứ giá nào cũng không vi phạm lần nữa. Người ta thường nghĩ, “ Tôi không muốn lập bất kỳ loại cam kết nào vì làm cam kết là bắt đầu phá vỡ cam kết.” Nhưng nếu chúng ta không lập một cam kết, thì không có gì để phá vỡ. Kinh điển nói rằng lập một cam kết là điều quan trọng, vì một cam kết phát sinh một quyết tâm và năng lực mạnh mẽ không vi phạm hành động xấu lần nữa.

4. Năng lực giải độc (gNyen Po’i sTobs). Đây là năng lực của phương pháp làm tịnh hóa những bất tịnh. Trong trường hợp này, là sự thực hành hay sadhana (nghi quỹ) của Đức Vajrasattva, trong đó chúng ta tịnh hóa các dấu vết của nghiệp xấu, những thói quen của cảm xúc bất thiện, qua cam lồ ban phước của sự hợp nhất nam và nữ Phật Vajrasattva.

Sự hỗ trợ, hối hận, lời hứa, và sau đó là sự tịnh hóa thực tế – bốn phương diện này rất quan trọng. Nói chung, trong Vinaya, nếu bạn đứt giới, nếu vi phạm bất cứ bốn giới nguyện gốc nào, bạn sẽ không thể phục hồi chúng. Bồ tát giới có thể phục hồi qua năng lực của chính bạn và người khác. Trong tantra, giới luật có thể được phục hồi bằng sự thực hành chính bạn. Thế nên, những giới luật bị đứt có thể phục hồi, và chúng sẽ hồi phục bằng việc sử dụng bốn năng lực. Giới luật thanh tịnh và hoàn thiện, sự tương tục của trí tuệ và năng lực mật tông, là trọng tâm và phần chính của thực hành mật tông.

Trên đây chỉ là những gì tổng quát của Mật Giáo, tốt nhất là nhận giới luật từ một bậc Đạo Sư thanh tịnh khẩu truyền. Có những giới luật chúng ta không giữ được thì nên đảnh lễ ngài 3 lễ sau đó phát lộ nói rằng con không giữ được để không hủy phạm giới. Thật hổ thẹn cho ai tự nhận mình là một hành giả kim cương thừa mà không thủ trì giới luật giải thoát.

OM AH HUM BENZA GURU PADME SIDDHI HUM

Share:

NHỮNG GIỚI LUẬT CỦA TU HÀNH MẬT TÔNG KIM CƯƠNG THỪA VÀ GIỚI LUẬT RIÊNG CỦA ĐẠI VIÊN MÃN (PHẦN II)

 

NHỮNG GIỚI LUẬT KHÔNG PHỔ BIẾN CỦA DZOGPA CHENPO

Với những người đã được nhập môn vào thực hành của Dzogpa Chenpo, điều quan trọng là tuân theo những giới luật phổ biến và đặc biệt sau đây để duy trì và hoàn thiện sự thiền định và nhận biết của họ.



NHỮNG GIỚI LUẬT CHUNG CỦA DZOGPA CHENPO

Phạm trù phổ biến có hai mươi tám giới, được chia thành hai nhóm. Nhóm đầu tiên là hai mươi bảy giới về khía cạnh bên ngoài, bên trong, và bí mật của thân, khẩu, và ý của vị thầy gốc hay Lama. Toàn bộ pháp giới là một trong Mandala của vị Thầy Mật Tông Kim Cương Thừa. Mỗi khía cạnh bên ngoài, bên trong, và bí mật được phân chia thêm nữa thành những khía cạnh bên ngoài, bên trong, và bí mật nhỏ hơn. Giới cuối cùng thứ hai mươi tám, được thiết kế như sự thu thập của giới luật nhánh.

 

Tôn Tượng Mật Tông Kim Cương Thừa

Tôn Tượng Mật Tông Kim Cương Thừa

 

Trước tiên là hai mươi bảy giới luật gốc (rTsa lTung):

A. Những giới luật về Thân của vị Thầy Gốc

1. Bí mật của bên ngoài là kiềm chế việc giết hại.
2. Bên trong của bên ngoài là kiềm chế tà dâm.
3. Bên ngoài của bên ngoài là kiềm chế trộm cướp.
4. Bên ngoài của bên trong là kiềm chế sự khinh miệt cha mẹ, anh chị em họ.
5. Bên trong của bên trong là kiềm chế việc coi thường các biểu tượng của Giáo Pháp.
6. Bí mật của bên trong là kiềm chế việc xem nhẹ thân thể chính họ, vì đây là mandala của Bổn tôn.
7. Bí mật của bí mật là kiềm chế ngay cả việc dẫm lên bóng của vị Thầy.
8. Bên trong của bí mật là kiềm chế việc quấy rối vị phối ngẫu của vị Thầy hoặc của huynh đệ Vajra, thậm chí chỉ đùa giỡn.
9. Bên ngoài của bí mật là kiềm chế không đánh đập huynh đệ Vajra.

B. Những giới luật về Ngữ của vị Thầy Gốc

10. Bên ngoài của bên ngoài là kiềm chế nói dối.
11. Bên trong của bên ngoài là kiềm chế nói chia rẽ.
12. Bí mật của bên ngoài là là kiềm chế nói lời thô tục.
13. Bên ngoài của bên trong là kiềm chế việc thiếu tôn kính đến người giảng dạy Giáo Pháp.
14. Bên trong của bên trong là kiềm chế việc thiếu tôn kính đến người đang trầm tư về Giáo Pháp.
15. Bí mật của bên trong là kiềm chế việc thiếu tôn kính đến người đang thiền định về bản tánh tuyệt đối.
16. Bên trong của bí mật là kiềm chế việc chế nhạo phối ngẫu vị Thầy.
17. Bên ngoài của bí mật là kiềm chế việc chế diễu huynh đệ Vajra.
18. Bí mật của bí mật là kiềm chế việc nhạo báng vị Thầy.

C. Những giới luật về Ý của vị Thầy Gốc

19. Bên ngoài của bên ngoài là kiềm chế không tham lam.
20. Bên trong của bên ngoài là kiềm chế không ác ý.
21. Bí mật của bên ngoài là kiềm chế không tà kiến.
22. Bên ngoài của bên trong là kiềm chế không hoạt động đồi trụy.
23. Bên trong của bên trong là kiềm chế việc hôn trầm và trạo cử trong thiền định.
24. Bí mật của bên trong là kiềm chế khỏi quan điểm đồi trụy.
25. Bên ngoài của bí mật là kiềm chế không nghĩ tưởng về vị Thầy và phối ngẫu trong suốt cả ngày lẫn đêm.
26. Bên trong của bí mật là kiềm chế việc nghĩ tưởng về vị Bổn tôn của mình suốt cả ngày và đêm.
27. Bí mật của bí mật là kiềm chế việc suy nghĩ về kiến, thiền, hành suốt cả ngày và đêm.

Thứ hai là hai mươi lăm giới luật nhánh (Yan Lag):

A. Năm Giới Luật Trong Đó Hành Giả Mật Tông Kim Cương Thừa Nên Tận Dụng Phương Tiện Thiện Xảo Phi Thường

1. Sự loại bỏ [giải thoát] hay trừ tà. Mục tiêu chính của sự thực hiện này là loại bỏ bám chấp vào bản ngã và vô minh trong dòng tâm thức hành giả qua nhận biết, và loại bỏ chúng từ dòng tâm thức người khác qua các hoạt động của lòng bi.
2. Hợp nhất. Điều này có hai khía cạnh, tương đối và tuyẹât đối. Khía cạnh tương đối là kết hợp vật chất, khiến đem lại cực lạc, biểu tượng của trí tuệ bổn nguyên. Khía cạnh tuyệt đối là thiền định và nhận biết sự hợp nhất của hình tướng và tánh Không, khiến phát sinh trực tiếp đại cực lạc tuyệt đối.
3. Lấy những vật không được cho, khi mục đích là lớn hơn.
4. Nói dối vì lợi ích người khác.
5. Thờ phụng vì mục đích dẫn dắt người khác đến Giáo Pháp.

B. Năm Giới Không Từ Bỏ: Trong trường hợp này chúng ta không nói về các cảm xúc thông thường là những năng lượng với ý định thanh tịnh.

6. Không từ bỏ thèm khát – sự khao khát đến tất cả bà mẹ chúng sanh với lòng bi.
7. Không từ bỏ thù hận – sự thù ghét khiến loại bỏ tà kiến.
8. Không từ bỏ si mê – sự si mê không có tư duy phân biệt vì sự nhận biết thanh thản của luân hồi và niết bàn.
9. Không từ bỏ kiêu mạn – sự tự hào khiến có tự tin trong cái thấy bình đẳng.
10. Không từ bỏ đố kỵ – sự đố kỵ khiến không thừa nhận quan điểm và hoạt động nhị nguyên vào lãnh vực của bản tánh tối thượng. Nếu bạn đố kỵ, bạn sẽ không muốn để người nào vào cửa. Tương tự như vậy, sự đố kỵ không để tính nhị nguyên đi vào lãnh vực của bản tánh tối thượng.

C. Năm giới của việc chấp nhận: Điều này biểu hiện sự chấp nhận bất cứ thứ gì không phân biệt.

11. Chấp nhận phân (purisha).
12. Chấp nhận nước tiểu (mutra).
13. Chấp nhận máu (rakta).
14. Chấp nhận thịt (mamsa).
15. Chấp nhận tinh dịch (shukra).

D. Năm Giới Của Nhận Biết Thanh Tịnh

16. Năm kết tập (ngũ uẩn) như năm vị Phật và năm gia đình Phật.
17. Năm nguyên tố như năm vị phối ngẫu nữ của năm vị Phật.
18. Năm đối tượng cảm giác như năm nữ Bồ tát.
19. Năm giác quan như năm Bồ tát nam.
20. Năm màu như năm trí tuệ nguyên sơ.

E. Năm giới của sự đạt được thành tựu: Qua năng lực của năm tri kiến trước đó như là nhận ra các uẩn là năm vị Phật, nó là sự đạt trạng thái của năm gia đình Phật.

21. Sự thành tựu của Phật bộ.
22. Sự thành tựu của Kim Cương bộ.
23. Sự thành tựu của Bảo bộ.
24. Sự thành tựu của Liên Hoa bộ.
25. Sự thành tựu của Tác Nghiệp bộ.

 

Ngài Guru Menla

NHỮNG GIỚI LUẬT ĐẶC BIỆT CỦA DZOGPA CHENPO

Do nhận ra Dzogpa Chenpo và duy trì nhận biết của nó, hành giả giữ gìn những giới luật đặc biệt – kiến, thiền, và hành của Dzogpa Chenpo, đó là sự thành tựu tự nhiên, toàn bộ, toả khắp, và thoát khỏi việc khái niệm hóa, kinh nghiệm, phân biệt, và giới hạn. Đó là bốn giới luật đặc biệt của Thregcho và Thogal trong Dzogpa Chenpo.

Hai Giới Của Thregcho

1. Không hiện hữu (Med Pa). Dzogpa Chenpo có một quan điểm tránh việc lấy hay bỏ. Giới luật này ám chỉ sự nhận biết không hiện hữu của bản ngã khiến vượt qua sự vi phạm bằng việc hiểu biết, kinh nghiệm, hay nhận biết giác tánh nội tại của thanh tịnh bổn nguyên.

2. Toàn khắp (Phyal Ba): Nhờ duy trì tinh chất, bản tánh, và lòng bi qua bốn thiền định tự nhiên (Chos bZhag bZhi) của Thregcho, tất cả hàng trăm ngàn giới luật sẽ được hoàn thiện, giống như hành trăm dòng nước được một cây cầu bắc ngang.

Hai Giới Của Thogal

3. Duy nhất (gchig pu). Nhờ tiếp nhận trao truyền đặc biệt của Dzogpa Chenpo, hành giả Mật Tông Kim Cương Thừa đạt được trạng thái hoàn thiện luân hồi và niết bàn như một, và điều đó tỏa khắp mọi hiện tượng hiện hữu qua năng lực duy nhất của giác tánh nội tại.

4. Thành tựu tự nhiên (Lhun Grub). Nếu hành giả Mật Tông Kim Cương Thừa đã hoàn thiện nhận biết của Dzopa Chenpo, thì khi đã thực sự từ bỏ nền tảng làm hại người khác, hành giả đã hoàn thiện việc tuân thủ giới luật Vinaya. Vì hành giả Mật Tông Kim Cương Thừa có lòng bi phi quan niệm đến tất cả chúng sanh đang sống chưa nhận biết, hành giả đã phát triển tư duy lợi ích cho người khác nên đã hoàn thiện giới luật của Bồ tát. Vì hành giả đã hoàn thiện tánh giác nội tại, nên đã hoàn thiện giới luật. Một người như vậy đã hoàn thiện mọi giới luật chỉ với một nhận biết duy nhất.

OM AH HUM BENZA GURU PADME SIDDHI HUM

Share:

NHỮNG GIỚI LUẬT CỦA TU HÀNH MẬT TÔNG KIM CƯƠNG THỪA VÀ GIỚI LUẬT RIÊNG CỦA ĐẠI VIÊN MÃN (PHẦN I)

 

NHỮNG GIỚI LUẬT CỦA TU HÀNH MẬT TÔNG KIM CƯƠNG THỪA

GIỚI LUẬT



Sau khi tiếp nhận một quán đảnh từ vị Thầy Mật Tông Kim Cương Thừa, hành giả duy trì nhận biết bằng phương tiện của tâm linh hay cái thấy, kinh nghiệm, nhận biết của Mật Tông Kim Cương Thừa và cuộc sống phù hợp với giáo lý. Đây là sự tuân thủ giới luật (samaya). Nó là sự tương tục của sự thành tựu tâm linh sâu thẳm nhất và mật truyền của hành giả, nhận được trong khi quán đảnh.

BA PHÂN CHIA CỦA GIỚI LUẬT

Trong Phật giáo, có ba phân chia kỷ luật hay giới luật chính (sDom Pa). Đầu tiên là giới luật của Vinaya, kỷ luật của tu sĩ đạo Phật và người sùng mộ bình thường. Giới luật Vinaya chủ yếu là giới luật về thân. Thứ hai là giới luật Bồ tát. Rèn luyện này dựa trên việc có duy trì khao khát và cống hiến để phục vụ tất cả chúng sanh không có bất cứ tư lợi nào. Do đó, giới luật của Bồ tát chủ yếu là tinh thần. Thứ ba là giới luật mật tông. Giới luật này được đặt nền tảng trên trí tuệ bổn nguyên. Khi nhận quán đảnh, hành giả nên hiểu và nhận ra ý nghĩa của quán đảnh là trí tuệ, và sau đó duy trì trí tuệ đó bằng việc duy trì giới luật thanh tịnh. Thế nên, duy trì trí tuệ bổn nguyên là giới luật mật tông. Do vậy, giới luật Vinaya chủ yếu dựa căn bản trên cư xử về thân, giới Bồ tát dựa căn bản trên thái độ tinh thần, và giới mật tông dựa căn bản trên trí tuệ bổn nguyên, sự nhận thức thanh tịnh.

THỜI GIAN THỌ GIỚI

Có những khác biệt trong khi bạn nhận nhiều giới luật khác nhau. Trong rèn luyện của Vinaya hay Bồ Tát, các bản văn và giới luật giải thích trong rèn luyện đó được học trước, sau đó hành giả quyết định thọ giới hay không. Nhưng trong Mật Tông Kim Cương Thừa, trước tiên là nhận quán đảnh, và sau đó là học. Theo truyền thống, hành giả không thấy, đọc, hay nghe bất cứ điều gì về tantra cho đến khi nhận được trao truyền bằng việc nhập môn vào Mật Tông. Ở đây, hành giả có thể có nghi ngờ, “Làm sao tôi có thể tiếp nhận giới luật Mật Tông mà không được biết về chúng?” Đó là điểm cốt lõi! Mật Tông chỉ dành cho người đặc biệt đã chuẩn bị và không nghi ngờ. Mật Tông không dành cho người chưa biết hay chưa chuẩn bị. Trong Mật Tông Kim Cương Thừa, sau khi nhận quán đảnh bạn phải bảo tồn giới luật. Nó có tiềm năng lợi ích cũng như làm hại mạnh mẽ. Về tiếp nhận quán đảnh, đệ tử phải là người có năng khiếu đặc biệt, vị thầy là một người giác ngộ, và mandala đã ban phước như chất liệu trí tuệ. Khi có được sự kết hợp ba phẩm tính này, thì không cần đi qua tiến trình học trước, rồi sau đó quyết định thực hiện hay không. Việc sẵn sàng đồng nghĩa với việc được tiếp nhận vào Tantra.

GIỚI LUẬT CHUNG CHO CẢ HAI TRUYỀN THỐNG MẬT TÔNG KIM CƯƠNG THỪA CŨ VÀ MỚI

Có nhiều phạm trù giới luật. Trong tantra nội, chung cho cả hai tantra mới và cũ, có mười bốn vi phạm gốc (hay sa sút gốc, rTsa lTung), và tám vi phạm nặng (hay sa sút phụ, sBom Po).

MƯỜI BỐN VI PHẠM GỐC

Thứ NhấtKhinh chê hoặc phỉ báng Đạo Sư.

Thứ Hai: Khinh chê giáo huấn về Mật Giới

Thứ Ba: Không cần thiết nhưng lại phê phán đạo hữu kim cang, những người cùng nhận quán đảnh với mình từ một vị Thầy.

 

Ngài Guru Menla

 

Thứ Tư: Từ bỏ phát tâm từ bi với mọi chúng sinh hữu tình

Thứ Năm: Không hành trì Bồ Đề Tâm

Thứ Sáu: Bắt lỗi lời Phật dạy trong kinh điển Hiển Giáo lẫn Mật Giáo

Thứ Bảy: Tiết lộ giáo lý thực hành bí mật trong Mật Tông Kim Cương Thừa cho những người chưa học hoặc chưa nhận Quán Đảnh

Thứ Tám: Khinh chê thân người của chính mình

Thứ Chín: Từ bỏ thực hành tánh không

Thứ Mười: Thân cận người độc hại

Thứ Mười Một: Không ghi nhớ quan kiến về tánh không

Thứ Mười Hai: Đưa thông tin sai lệch làm thối thất hoặc hủy hoại tín tâm vào Phật Pháp và Giáo Pháp Mật Thừa của người khác

Thứ Mười Ba: Không hành trì đúng đắn những thệ nguyện về mối liên hệ giữa Thầy và trò

Thứ Mười Bốn: Khinh chê nữ giới

TÁM VI PHẠM THÔ

Sau khi đi vào các tantra nội, chúng ta nên kiềm chế vi phạm bất cứ một trong tám vi phạm thô sau đây:
1. Có một phối ngẫu là người thường, chưa được nhập môn vào con đường mật truyền.
2. Tiếp nhận cam lồ từ một nguồn không thích hợp, một phối ngẫu mật tông chưa nhập môn.
3. Không che dấu những biểu tượng bí mật của mật tông với các kinh mạch không thích hợp, người chưa nhập môn.
4. Quấy động bằng lời nói, thân thể trong tập hội mật tông như các nghi lễ bữa tiệc cúng dường.
5. Không nói sự thật hay không dạy cho người có kinh mạch thích hợp, mà lại nói điều đó cho người khác. Chẳng hạn, nếu người nào đó là một kinh mạch thích hợp cho Atiyoga mà lại đưa giáo lý của sutra (giáo tông).
6. Ở trong một nhóm thiếu tôn kính đến quan điểm và các thực hành của mật tông hơn bảy ngày. Điểm quan trọng là bạn nên luôn kiểm tra và đánh giá những gì có lợi nhất.
7. Ngụy tạo hay khoe khoang bạn là một Vajradhara (vị thầy mật tông) của tantra với sự tự kiêu, mặc dù bạn không có trí tuệ như vậy.
8. Đưa giáo lý bí mật cho người mà trước đó đã nhận giáo lý bí mật mà hiện nay không có niềm tin.

Share:

Hướng dẫn xem tướng tay chân có thể biết sướng hay khổ

 Về bàn tay thì kích thước, độ dày mỏng của bàn tay, độ dài ngắn, to nhỏ của ngón tay, hình cục giữa các bàn tay, đường vân trên bàn tay,... đều có những học thuyết mệnh lý phức tạp. Còn về chân, dù nằm ở phần dưới cùng của cơ thế nhưng nó lại có trách nhiệm vô cùng to lớn, đó là nâng đỡ trọng lượng của cơ thế, do vậy thông qua hình dáng ta có thể phán đoán được sự phú quý và bẩn hàn của một người.

Tay và cánh tay đểu dài: là tướng cát

Cánh tay nên dài không nên ngắn, người có cánh tay ngắn thường có bệnh trong người. Giọng nói nên êm tai. Bàn chân nên vuông và dày, không nên nhỏ và mỏng, như vậy đi lại mới vững chắc, cho thấy người này có cơ sở vững chắc. Tay và chân vừa chắc vừa dài, cho thấy người này luôn có người ở bên giúp đỡ. Ngón tay trên hẹp dưới rộng như cọng hành tươi, nhưng lại thẳng và thuôn dài, người này được hưởng phú quý. Cánh tay nên dài, nếu cánh tay dài quá đầu gối thì có thể được quý nhân giúp đỡ và cất nhắc, và ngay cả chính bản thân họ cũng có thể làm nên sự nghiệp. Nhưng nếu cánh tay dài quá đầu gối thì trường hợp này rất ít gặp. Bàn tay không có vân nghĩa là vân trên bàn tay nhẵn nhụi và không rõ nét, chứ không có chuyện bàn tay không có bất kỳ đường vân nào. Nếu vân tay của một người quá phẳng và nhẵn nhụi thì cho thấy người này phải làm việc vất vả nhưng thành quả thu được lại rất ít, mà làm việc gì cũng dễ khiến người ta từ chối hợp tác.
 
Bàn tay của người già vì da bị chùng nhão nên dễ xuất hiện nhiều nếp nhăn. Nhưng nếu người trẻ mà có hiện tượng này thì da phẩn là do làm lụng vất vả, người như vậy thường là lao động chân tay, đời sống không khấm khá, cả đời không làm nên công trạng gì. Tay chân mập mạp và mềm mại, người này thường có vận thế thời trẻ rất tốt, điều kiện gia đình khá giả, từ nhỏ đã được cưng chiều, không phải chịu vất vả, mà chỉ biết hưởng thụ. Sau tuổi trung niên cũng không gặp nhiều khó khăn, cuộc đời của người này tương đối may mắn, có thể được hưởng phú quý suốt cuộc đời.
 
Bàn tay nên nhẵn mịn, sáng bóng và hồng hào, các đường vân sâu và nhỏ, không chồng chéo lên nhau, người này thường được hưởng cuộc sống vinh hoa phú quý.

Bàn tay chu sa: hưởng phú quý

Người có cánh tay dài thì tính tình hào phóng, không so đo tính toán thiệt hơn, cūng luôn sẵn sàng giúp đỡ và ban ơn cho người khác. Còn người có cánh tay ngắn thì tính tình keo kiệt, hay so đo tính toán, chỉ quan tâm xem mình có thiếu gì hay không.
Nếu trên bàn tay có sắc đỏ tươi, giống như màu chu sa thì đó gọi là bàn tay chu sa. Người có bàn tay này thường được hưởng phú quý. Ngón tay như đốt tre, khi khép lại có thể nhìn thấy rô kế hở giữa các ngón tay, người có kiểu bàn tay này thường có ít tiền của, và không tích góp được gì. Người này thường không am hiểu thế tục, để theo đuổi sự lý tưởng họ không quan tâm đến hiện thực, và tất nhiên cũng không coi trọng tiền bạc, dù có kiếm được tiền họ cũng không lên kế hoạch chi tiêu, cho nên hay phải lo lắng về vấn để sinh hoạt.
Ngoài ra, người có đầu ngón tay hình vuông, tức không nhọn và nhỏ, mà vuông và to thì tính tình cẩu thả. Do vậy khi xử lý vấn để thường không thể phân tích vấn để một cách kỹ càng, và cũng không thể quyết đoán, người như vậy thường cũng không biết nhìn xa trông rộng.

Xem tay chân: có thể biết sướng hay khổ

Vui buồn, sướng khổ,... thuộc về tâm trạng của con người, những tâm trạng này đều có thể nhận biết được thông qua dáng vẻ bề ngoài. Muốn biết cuộc sống của một người là sướng hay khổ thì có thể xem tay chân của họ. Người có tay chân vuông vắn, dày dặn và mềm mại thường có cuộc sống hạnh phúc, tinh thần luôn lạc quan. Trái lại, người có tay chân nhỏ và cứng thì cuộc sống thường gặp nhiều trắc trở, mà tâm trạng đau khổ cũng luôn hiển hiện trên khuôn mặt của họ. Nhìn vào da và lông là có thể biết được người đó có thông minh và hiểu biết hay không. Người có trình độ thì lông và tóc thường mềm, da nhẵn mịn và sáng bóng:
  • Da ngón tay giống như da ngỗng, lại có nhiều nếp nhăn sâu và nhỏ, người này tính tình thật thà chất phác và tốt bụng.
  • Tay không nên to, thô và mập như “chân heo”, người có tướng tay này thường ngây ngô dại dột, không có chí khí.
  • Gân và xương ở mu bàn chân nổi quá rõ, đây được coi là bàn chân mỏng, người này thường cả đời phải vất vả chạy ngược chạy xuôi. 
  • Gan bàn chân có nhiều thịt, cho thấy người này khoẻ mạnh. Bàn chân của người giàu có cũng có rất nhiều thịt, và không nhìn thấy gân và xương, bàn chân thường vuông, dày và mềm. 
Còn đối với người nghèo khổ thì mu bàn chân thấp và mổng, gần và xương lộ rõ, và trông có vẻ hơi cứng. Bàn chân không có gót không có nghĩa là bàn chân đó thực sự không có gót chân, mà ý muốn nói người đó khi đi thì gót chân thường không chạm đất. Người này thường có cuộc sống phiêu bạt, vận thế không ổn định, tuổi thọ cũng không cao.

Tay dài: hưởng nhiều phúc lộc

Người có tay dài thường được hưởng nhiều phúc lộc. Nếu trên bàn tay có nốt ruồi đen thì đó là tướng bàn tay may mắn. Tay và chân thường đong đưa, khi đứng người không thẳng, mà thường nghiêng ngả. Người này tính tình ngang ngược và nóng nảy, khó giữ bình tīnh, vận thế thăng trẩm, mọi việc không suôn sẻ. Điều quan trọng nhất đối với người có thân hình đẹp đó là tứ chi phải cân đối, nếu thân dài thì tay phải dài. Nếu thân dài mà tay ngắn thì người này không thể có tuổi thọ cao, hơn nữa cuộc sống lúc trẻ lại không thuận buồm xuôi gió, đến khi về già vẫn không lập nên công trạng gì, và cũng không được hướng cuộc sống nhàn hạ.
 
Bàn tay không nên quá to hoặc quá mập, không nên có hình thù kì dị hoặc nhăn nheo, hai bàn tay nên đầy đặn, có như vậy mới thông minh và phú quý.

Ngón tay nhỏ và mềm: da tài đa nghệ

Ngón tay nhọn, nhỏ, mềm và đẹp, dây thường là bàn tay của nhà nghệ thuật. Người này có năng khiếu nghệ thuật, có tài hội hoạ, biểu diễn, ca hát,... Họ thường lý tướng hoá và có cách suy nghĩ không thiết thực. Nếu các bộ phận khác trên khuôn mặt đểu cân đối thì chắc chắn có thể công thành danh toại. Nếu không cần đối thì tuy có tài nhưng cũng không có cơ hội thể hiện, tâm trạng lúc nào cũng buồn bực và sầu não. Cánh tay dài và thẳng, tròn chứ không nhô xương ra ngoài, da nhẵn mịn và trơn bóng, thịt dày, người có cánh tay này thường có địa vị cao quý, vận thế cũng tốt hơn người khác. Đường vân thông quan tức đường trí tuệ và đường tình cảm hợp lại làm một và chạy ngang qua lòng bàn tay, trông bàn tay như bị đứt làm đôi, do vậy mới được gọi là bàn tay gãy. Người có kiểu bàn tay này tính tình ngay thẳng, chuyên quyển độc đoán, đời sống hôn nhân dễ có vấn để. Người xưa cho rằng, con trai mà có bàn tay gãy thì dễ ly hôn, rất nhiều người trong số họ đều phải trải qua hai lần lập gia đình. Nếu con gái có bàn tay gãy thì ảnh hưởng đến vận mệnh của chổng, và đời sống hôn nhân cũng không thể hạnh phúc.

Tay trái và tay phải: phải xem riêng rẽ

Tay nên dài không nên ngắn, người có tay trái ngắn thường kém hiểu biết, không thích hợp với công tác văn hoá. Người có tay phải ngắn thì thể trạng không tốt, không thích hợp với công việc liên quan đến ngành quân đội. Sự phân chia trái phải được dựa theo lý luận âm dương cương nhu trong Kinh Dịch, người xưa cho rằng trái là văn, phải là võ. Vì vậy dưới đây khi xem tướng tay chân đểu thể hiện rõ sự khác biệt giữa tay trái và tay phải, và lần lượt phân tích trạng thái cát hung thể hiện qua hai tay. Nếu một người khép các ngón tay lại rồi duỗi ra mà thấy hơi cong, cho thấy người này muốn sở hữu mọi thứ, có thể tận dụng mọi cơ hội để đạt được mục đích, là người ích kỷ. Ngón tay bên trái cong, người này vì luôn muốn sở hữu mọi thứ nên trong lòng thường thấp thỏm không yên. Ngón tay bên phải cong, người này có thể làm giàu một cách không chính đáng, nhưng của cải dễ đến và cũng dễ đi. Duỗi bàn tay rồi khép lại thấy ngón tay cong về phía sau, nếu là ngón bên trái thì người này khổ trước sướng sau. Nếu là ngón bên phải thì người này nghèo nhưng lại tham lam.
 
Ngón tay dính vào nhau tức là khi khép bàn tay lại nhưng không thể xoè ra, người này tính tình bảo thủ, hướng nội, thiếu tinh thần can đảm. Nếu ngón bên trái dính vào nhau thì người này cả đời nghèo khổ và cô độc. Nếu là ngón bên phải dính vào nhau thì người này vừa nghèo khổ vừa sống không thọ.Ngón tay đều nhau tức chỉ ngoài ngón cái thì bốn ngón còn lại đểu và thẳng như nhau, đây là kiểu bàn tay đẹp. Người có kiểu bàn tay này tính tình không phức tạp mà rất thẳng thắn, làm việc gì cũng có chừng mực nhất định. Nếu các ngón bên tay trái đểu thì người này hiển đạt tương đối muộn. Nếu các ngón bên tay phải đểu thì người này hiển đạt từ khi còn rất trẻ.
 
Bàn tay nên dài không nên ngắn, tay trái và tay phải cần phù hợp với lý luận âm dương. Cuốn sách này khi luận bàn về bàn tay cũng thường phán đoán riêng lẽ.
 
Móng tay có thể phản ánh tình hình sức khoẻ của một người. Móng tay có màu trắng, người này tính tình dâm đãng, có nhiều ham muốn về sắc dục. Móng tay dày và cứng, dây là người sang trọng, có thể lập nên công trạng. Móng tay mỏng, giòn và dễ bị gāy, người này có thể trạng yếu, đa số đểu có hoàn cảnh xuất thân thấp hèn, cả đời không làm nên trò trống gì.
Lòng bàn tay thường hơi trūng xuống, nhưng nếu lòng bàn tay bên trái trũng xuống rất sâu thì cho thấy đây là người luyện võ. Nếu lòng bàn tay bên phải trūng xuống rất sâu thì cho thấy người này có thân phận thấp hèn, cuộc sống nghèo khổ và thường phải đi làm thuê cho người khác. Bốn ngón tay đểu nhau tức ngoài ngón cái thì bốn ngón còn lại dài gần bằng nhau. Người bình thường thì bốn ngón đểu có sự khác biệt. Còn người có bốn ngón đểu nhau thường là người sang trọng. Người có bốn ngón bên tay trái đểu nhau có thể làm việc trong một tổ chức lớn hoặc trong văn phòng chính phủ, và có thể nắm quyển trong tay. Người có bốn ngón bên tay phải đều nhau có thể phát triển trong ngành quân đội.

Chân: nên dài không nên ngắn

Chân cũng như tay, tức nên dài không nên ngắn. Người có chân ngắn thì nền tảng không tốt, cả đời phải làm lụng vất vả. Người có chân trái ngắn thì cuộc sống vất vả và phải chịu cảnh cô độc. Người có chân phải ngắn thì từ nhỏ đã chịu thiệt thòi, cả đời phải sống trong cảnh nghèo khổ. Ngón chân không nên cong như móc câu, người như vậy thường gặp nhiều khó khăn và thất bại trong cuộc sống, thậm chí phải chịu cảnh tù tội. Người có ngón chân bên trái cong thì có địa vị thấp hèn. Người có ngón chân bên phải cong thì có thể dính dáng đến kiện tụng hoặc tù tội. Ngón chân bên trái lật ra ngoài, người này sống cô đơn đến già, cuộc. sống nghèo khổ. Ngón chân bên phải lật ra ngoài, cuộc sống của người này bấp bênh không ổn định, sống lưu lạc khắp nơi. Ngón chân không được cong vào trong và cũng không được lật ra ngoài, tốt nhất là chụm lại với nhau. Người có ngón chân chụm đều thường là người sang trọng. Ngón chân bên phải chụm đểu, người này tuy không sang trọng nhưng lại có thể ở gần quý nhân, và được quý nhân giúp đỡ.
 
Theo như sách tướng số quan niệm trái văn phải vō thì người có ngón chân bên trái đểu nhau có thể nắm giữ quyền hành trong tay. Còn người có ngón chân bên phải đều nhau thì có thể trở thành một danh tướng. Móng chân và móng tay đểu không nên có màu trắng. Nếu xuất hiện màu trắng thì cho thấy sức khỏe có vấn để. Móng chân không nên lōm vào hoặc lật ra, người có kiểu móng chân này thường phạm tội hình sự.
Nếu quặp ngón chân lại mà không thể duỗi ra thì đây cūng không phải là cát tướng. Người có ngón chân bên trái khít liển với nhau thường có ít người thân, cả đời phải sống cảnh cô đơn và nghèo khổ. Người có ngón chân bên phải khít liển với nhau có thể bị tù tội, hoặc dính dáng đến kiện tụng.
Share:
Main Ad ➤ Click "VÀO ĐÂY" Doanh nhân và Thương hiệu ASEAN luôn cập nhật

Quốc Gia Truy Cập

Flag Counter

Bài đăng nổi bật

Cách đưa Webite lên Index

  Để đưa một website lên Google Index (xuất hiện trên kết quả tìm kiếm), bạn cần thực hiện theo quy trình chuẩn gồm 4 bước chính sau đây. 1....

Bài mới đăng

Flag Counter

Lưu trữ Bài viết

Tổng số lượt xem trang

Ủng Hộ Chúng Tôi

Liên hệ Nhà thơ Hoàng Huy

Tên

Email *

Thông báo *

Cho Đặt Banner Quảng cáo

Like Fanpage Phong Thủy để cập nhật các thủ thuật mới nhất mỗi ngày OK Để sau