Luật Gia. Liz Quiehui có tên thật là Hoàng Quốc Huy, tên phiên âm là Lý Thu Tuệ

Blog

Main Ad ➤ Click "VÀO ĐÂY" Doanh nhân và Thương hiệu ASEAN luôn cập nhật

Kẻ trì pháp tại gia sao được gọi Tỳ-kheo?

 Bấy giờ, có nhiều Sa-môn phát tâm cạo bỏ râu tóc, ôm bát khất thực, sống đời du hành. Nhìn sang Tăng đoàn của Đức Phật, họ thấy mình khá giống liền nghĩ rằng, kia là Tỳ-kheo thì ta đây cũng là Tỳ-kheo; cũng là Sa-môn Thích tử.



Đức Phật nhiều lần lên tiếng trước hiện tượng này. Ngài ví dụ như con cừu đi theo đàn bò liền nghĩ mình cũng là bò, thực chất thì hình dáng và tiếng kêu đều khác. Đức Phật xác định, không cứ ôm bình bát đi xin ăn thì gọi Tỳ-kheo. Họ còn thuận theo thế tục, chưa tiếp nhận giáo pháp xuất thế thì không thể gọi là Tỳ-kheo.

“Một thời, Đức Phật ở tại vườn Cấp Cô Độc, cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ vào buổi sáng sớm, Đức Thế Tôn đắp y cầm bát vào thành Xá-vệ khất thực. Lúc ấy có một Bà-la-môn tuổi già sức yếu, chống gậy cầm bát đi khất thực từng nhà. Bà-la-môn này từ xa nhìn thấy Đức Thế Tôn liền tự nghĩ: ‘Sa-môn Cù-đàm chống gậy bưng bát, đi khất thực từng nhà. Ta cũng chống gậy ôm bát đi khất thực từng nhà. Ta cùng Cù-đàm đều là Tỳ-kheo’.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói kệ để trả lời:

Được gọi là Tỳ-kheo

Chẳng chỉ vì khất thực

Kẻ trì pháp tại gia

Sao được gọi Tỳ-kheo?

Đã lìa dục tai hại

Tu tập các chánh hạnh

Tâm mình không sợ hãi

Đó gọi là Tỳ-kheo.

Phật nói kinh này xong, Bà-la-môn kia nghe những gì Đức Phật đã dạy, tùy hỷ hoan hỷ làm lễ cáo lui”.

(Kinh Tạp A-hàm, quyển 4, kinh số 97. Khất thực)

Pháp thoại đã chỉ ra rằng, nếu tự cạo đầu, quấn y, ôm bát khất thực, du hành lang thang, tuy có hình thức khác tục nhưng không phải sư hay thầy, chính xác là không phải Tỳ-kheo. Mỗi cá nhân đã không là Tỳ-kheo thì số đông họ nhóm họp lại cũng không thể gọi là Tăng đoàn (Sangha, bốn vị Tỳ-kheo trở lên tu học theo Chánh pháp, thanh tịnh và hòa hợp).

Tỳ-kheo là người xuất gia, tu học với một vị thầy hoặc Tăng đoàn, được Tăng đoàn truyền giới (250 hoặc 227 giới) đúng Pháp và Luật. Vị Tỳ-kheo dù độc cư hay sống chung đều phải thuộc một Tăng đoàn, ít nhất là cùng Tăng đoàn tham dự bố-tát, tụng giới hàng mỗi nửa tháng; nhận sự giáo huấn của vị trưởng thượng trong Tăng đoàn ấy. Vị Tỳ-kheo hàng ngày ôm bát khất thực, bên ngoài đầy đủ oai nghi chánh hạnh, bên trong chuyên tu tập giới định tuệ, nỗ lực đoạn trừ tham sân si.

Việc có người tự nhận là Tỳ-kheo, trong khi không được trao truyền giới luật cũng như thực hành giáo pháp xuất thế đã có từ thời Thế Tôn. Theo dòng lịch sử, vì nhiều lý do khác nhau, hạng Sa-môn này thời nào và xứ sở nào cũng có. Ngày nay, ở Việt Nam, hiện tượng này được truyền thông mạng tung hô rầm rộ cũng không phải là chuyện lạ.

Vẫn biết giáo pháp của Thế Tôn là tài sản của nhân loại, mọi người đều có quyền tập học và thực hành để mang đến điều tốt đẹp. Không nhất thiết là Phật tử, ai cũng có thể tu học theo nhưng tự nhận Tỳ-kheo, lạm xưng Tăng đoàn là không được và không nên. Đạo pháp có thể bị phá hoại, niềm tin của tín đồ có thể bị thối thất, người bên ngoài dễ ngộ nhận, nếu Phật tử chúng ta không có giải pháp phù hợp, kiên quyết với các trường hợp lạm xưng này. Hàng đệ tử Phật nói chung và những vị có trách nhiệm thuộc Giáo hội nói riêng cần phải mạnh mẽ minh định điều này để bảo vệ Chánh pháp.

Share:

ĐI NHÉ CON !

 ĐI NHÉ CON !

Bây giờ con phải xa ta
Chia tay buồn bã, xót xa, nghẹn ngào
Nhà mình thiếu trước , hụt sau
Không gạo nấu cháo, làm sao bây giờ






Cuộc đời đâu phải giấc mơ
Lại càng không phải vần thơ vô tình
Bà rất sợ sống một mình
Đơn côi hết kiếp, làm thinh một đời
Có con, bà nghĩ...ý trời
Con là ánh sáng cuộc đời của ta
Con là tiếng hát, lời ca
Con là cây lá, nụ hoa...ngọt lành
Áo rách, vá lại cũng lành
Cháo rau dù ít vẫn dành cho nhau
Bây giờ...hết cháo, hết rau
Thôi thì ta phải đớn đau, nghẹn sầu
Không phải bà bán con đâu
Bà tìm người tốt, van cầu nuôi con
Già nua, chấp nhập sống mòn
Không thể ích kỷ để con héo gầy
Bà sợ mấy quán thịt cầy
Sợ lắm mấy chỗ "cờ tây", "mộc tồn"
Sợ gặp hổ, báo, cáo, chồn...
Sợ con gặp đám cô hồn bất nhân
Với bà, con là người thân
Cho con , bà cũng bần thần, xót xa
Con về ở với người ta
Chắc họ sẽ giống như bà...thương con !
Share:

Tam Thanh Đạo tổ

 Tam Thanh Đạo Tổ 三青 là hợp xưng của Ngọc Thanh 玉清, Thượng Thanh 上青và Thái Thanh 太青, là nơi cư trú của 3 vị tôn thần tối cao mà Đạo giáo tín phụng, cho nên 3 vị tôn thần tối cao này hợp xưng là “Tam Thanh”.

Tiên tượng Tam Thanh Đạo Giáo

Theo Đạo giáo tông nguyên 道教宗源, thanh khí do hỗn động thái vô nguyên hoá sinh làm Thiên Bảo Quân 天宝君, cũng xưng là Nguyên Thuỷ Thiên Tôn 元始天尊, cư trú tại Thanh Vi Thiên Ngọc Thanh Cảnh 清微天玉清境, nên xưng là Ngọc Thanh 玉清. Khí do xích hỗn thái vô nguyên huyền hoàng hoá sinh làm Linh Bảo Quân 灵宝君, cũng xưng là Linh Bảo Thiên Tôn 灵宝天尊, cư trú tại Vũ Dư Thiên Thượng Thanh Cảnh 禹余天上清境, cho nên xưng là Thượng Thanh 上清. Khí do mịch tịch huyền thông nguyên huyền bạch hoá sinh làm Thần Bảo Quân 神宝君, cũng xưng là Đạo Đức Thiên Tôn 道德天尊, tức Thái Thượng Lão Quân 太上老君, cư trú tại Đại Xích Thiên Thái Thanh Cảnh 大赤天太清境, cho nên xưng là Thái Thanh 太清. Ba vị tôn thần này mỗi vị là giáo chủ, tức Tam Động chi tôn thần, thống ngự các thiên thần, là tông của thần vương, chủ của phi tiên, vũ trụ vạn vật đều do 3 vị sáng tạo ra.
          Trong Tuỳ thư – Kinh tịch chí 隋书 - 经籍志cho rằng, Nguyên Thuỷ Thiên Tôn sinh ra trước thái nguyên 太元, thọ bẩm khí tự nhiên, xông lên không trung ngưng tụ lại, chẳng biết chỗ tận cùng, cho nên xưng là Nguyên Thuỷ 元始.
          Trong Tuỳ thư – Thích Lão chí 隋书 - 释老志cho rằng, Thái Thượng Lão Quân sinh trước thiên địa, dấu vết vô thường, từng làm thầy Tam Hoàng Ngũ Đế 三皇五帝.
          Có thuyết cho rằng, Tam Thanh là 3 hoá thân của Nguyên Thuỷ Thiên Tôn vào những thời kì khác nhau. Cũng có thuyết cho rằng, do Thái Thượng Lão Quân nhất thể mà hoá ra.

Share:

BÍ MẬT THÀNH TỰU PHÁP - VIÊN MÃN MỌI MONG NGUYỆN THẾ GIAN

 BÍ MẬT THÀNH TỰU PHÁP - VIÊN MÃN MỌI MONG NGUYỆN THẾ GIAN: 

Theo Đại sư. Hỏa Phượng Hoàng

Chúng ta vẫn thường hay nghe nói trì chú có vô lượng vô biên công đức, vô số lợi ích hữu dụng để cứu độ chúng ta trong cõi ta bà này như: trị bệnh, tiêu tai giải ách, bảo mệnh hộ thân cho đến cầu tài tăng ích, trường thọ phát triển lòng từ bi trí tuệ, giác ngộ,... âu đa số những người hành trì mật tông trong đời sống hiện tại cũng vẫn thường cầu nguyện thành tựu cho các mong nguyện thế gian. Những ước nguyện thế gian tuy chỉ là giả tạm, là phóng chiếu, song với chúng sinh thì đây vẫn là những điều rất cần thiết. Cũng như khi bạn đang mơ thì giấc mơ đó rất thật, chỉ khi tỉnh dậy nó mới biến mất và bạn mới biết là mình đang mơ. Những trải nghiệm sợ hãi, nguy hiểm, hạnh phúc, buồn đau đều rất thật, vậy nên đôi khi bạn tỉnh giấc trong tâm trạng rất vui hoặc ngược lại là trong nước mắt. 


Chừng nào bạn còn trôi lăn trong luân hồi, lẽ tất nhiên chư Phật sẽ trợ duyên để những tâm nguyện của bạn được viên mãn. Vì vậy, hôm nay Hỏa Phượng Hoàng sẽ chỉ dẫn 1 vài công thức hành trì thần chú để biến ước nguyện của bạn trở thành hiện thực. Việc của bạn là phải siêng năng hành trì mỗi ngày để có chánh tinh tấn, việc tinh tấn sẽ giúp bạn có định lực vững vàng để hiện thực hóa ước mơ. 


Con người ta khi hành trì thần chú nếu liên tục mỗi ngày không gián đoạn thì sau 21 ngày đã có thể hình thành trong ý thức như 1 thói quen, thường thì sau 100 ngày bạn hành trì liên tục và cầu nguyện 1 ước nguyện nào đó gửi thông điệp vào vũ trụ như vậy thì sẽ đủ năng lượng để biến điều ước đó thành hiện thực. Bài viết hôm nay tôi sẽ chỉ dẫn về việc đưa ước nguyện của bạn trực tiếp vào việc hành trì thần chú của 1 vài bổn tôn phổ truyền. Vị đầu tiên tôi muốn nhắc đến là về độ mẫu Tara. Chúng ta nên tìm hiểu trước về thệ nguyện của ngài. 


Đức Lục Độ Phật Mẫu đã phát thệ nguyện rằng: “Bất cứ ai, chỉ cần nghe được hồng danh của ta, nhớ tới hồng danh ta trong khi cầu nguyện, thực hành, thì sẽ được giải thoát khỏi mọi hiểm nguy, nguyện cho mọi mong nguyện thế gian và xuất thế gian đều được viên mãn”. Ngài đã cầu nguyện để viên mãn bản thệ đó, Ngài đã dành trọn sự thực hành để hồi hướng cho tâm nguyện đó. Ở đây tôi muốn nói đến thệ nguyện của ngài, đức Tara là bổn tôn của Kim Cang Thừa, không phải bổn tôn của Tịnh Độ, tuy nhiên khi tìm hiểu về các điển tích của ngài đều nói về việc nghe, nhớ đến hồng danh ngài và cầu nguyện giải thoát lên ngài thì sẽ được viên mãn mọi mong nguyện. Vậy ở đây, việc trì niệm hồng danh của Tara tuy không có trong truyền thống Kim Cang Thừa nhưng dựa vào thệ nguyện của ngài, ta có thể hành trì niệm danh hiệu ngài kết hợp với việc tán thán 21 độ mẫu và trì tụng thần chú để cầu nguyện sẽ dễ dàng được viên mãn y như bản thệ ngài đã phát nguyện. 


Về bài tán thán Tara, đạo sư của tôi từng dạy rằng: vì thệ nguyện của độ mẫu Tara chủ về hành động và viên mãn mọi mong cầu chúng sinh cho nên nếu bất kỳ ai trong 2 thời sáng từ khoảng 4h có thể đọc bài tán thán 21 độ mẫu 12 lần và trì chú của ngài, chiều từ 17h có thể hành trì 1 lượt 12 lần tán thán và trì chú của ngài rồi cầu nguyện 1 tâm nguyện nào đó thì sau 100 ngày liên tục cái năng lượng đó đủ mạnh để biến ước nguyện thành hiện thực, đạo sư còn đùa rằng thậm chí cái năng lượng đó đủ mạnh để các con cầu nguyện để giết chết 1 ai đó có lẽ ngài cũng sẽ làm. Nhưng tất nhiên, chúng ta có lòng từ bi sẽ không làm như thế. 


Về thần chú của ngài, chúng ta vẫn hay hành trì câu chú 10 chữ căn bản: 

Om ta rê tut ta rê tu rê sô ha 


Tôi sẽ chỉ dẫn cho các bạn 1 phương pháp đưa trực tiếp mong muốn của bạn vào thần chú để dẫn truyền viên mãn mọi mong cầu. 


Công thức như sau: 

Om ta rê tut ta rê tu rê ........ soa ha 


Ví dụ: 

1. om tare tut ta rê tu rê "diệt trừ oan gia và kẻ thù" soa ha

2. Om ta rê tut ta rê tu rê "tăng trưởng trí tuệ" soa ha

3. Om ta rê tut ta rê tu rê "giác ngộ tính không" soa ha

4. Om ta rê tut ta rê tu rê "diệt trừ phiền não" soa ha

5. Om ta rê tut ta rê tu rê "hãy ban cho con sự giàu có" soa ha 


Trên đây là 1 vài ví dụ cho công thức trên, bạn có thể thay chỗ "...." bằng tâm nguyện bạn mong muốn có được. Với công thức này, bạn có thể thành tựu các mong nguyện thế gian cho đến xuất thế gian.

Tất nhiên bạn sẽ phải hành trì ít nhất 10 chuỗi (tương đương 1080 lần) liên tục mỗi ngày. 100 ngày chỉ là với những mong nguyện thế gian khả năng có thể thực hiện được. Còn với những ước nguyện lớn hơn sẽ cần nhiều thời gian nhiều hơn để hoàn thành, phụ thuộc vào công đức của bạn có được bao nhiêu nữa, nên hành trì kết hợp chú "om mani padme hum" để tích tập công đức nhanh chóng, chú trăm âm để diệt trừ bớt đi nghiệp chướng đang cản trở làm chướng ngại cho bạn và kết hợp cùng công thức này để công đức bạn gieo trồng luôn tăng trưởng để biến ước nguyện bạn đang gieo trồng bằng thần chú tara sớm viên mãn thành hiện thực. Đây là cách để bạn gửi thông điệp cầu nguyện trực tiếp lên độ mẫu Tara vào mỗi câu thần chú thay vì phải hành trì xong nghi quỹ, trì tụng thần chú xong bạn mới cầu nguyện được 1 lần cho cả 1 lần hành trì. 


Về thời điểm thực hành pháp tùy vào mỗi mục đích mong nguyện khác nhau mà sẽ hành trì vào các giai đoạn của chu kỳ mặt trăng khác nhau trong tháng:

- Nếu sử dụng vào mục đích tức tai, bạn nên bắt đầu hành trì từ ngày m1 

- Nếu sử dụng vào mục đích tăng ích, bạn nên bắt đầu từ ngày m8, 

- Nếu sử dụng vào mục đích kính ái, bạn nên bắt đầu từ ngày 16, 

- Nếu sử dụng vào mục đích hàng phục, bạn nên bắt đầu từ ngày 23.

Bạn nên lập 1 bảng tính túc số mỗi ngày và sau mỗi lần hành trì sẽ ghi vào đó. Đủ 100 ngày từ ngày hành pháp trở đi, các tháng trở về sau bạn có thể hành trì theo các khoảng thời gian nhất định trong tháng để hành pháp duy trì năng lượng gia trì. Vd sau 100 ngày các pháp tức tai sẽ hành trì từ ngày m1- m8, các pháp tăng ích sẽ chỉ hành trì từ ngày m8- ngày 15 âm, các pháp kính ái sẽ hành trì từ ngày 16 - ngày 23 âm, các pháp hàng phục sẽ hành trì từ ngày 23 đến hết tháng (tùy mỗi tháng 29/30 ngày) 


Trong hình tướng của Tara, trên tay ngài luôn trì giữ nhánh hoa sen xanh - hoa utpala, loài hoa này chỉ nở vào ban đêm với ý nghĩa xua tan đi mọi sợ hãi trong màn đêm tăm tối. Tuy nhiên, loài hoa này nơi chúng ta không có. Vì vậy 1 cách cúng dường lên ngài với ý nghĩa về loài hoa này là bạn có thể mua nến hoa sen màu xanh tượng trưng và thắp sáng lên khi hành trì pháp của ngài, ánh sáng này có ý nghĩa giúp bạn xua tan đi sợ hãi chướng ngại vượt qua bóng tối như ý nghĩa của hoa utpala vậy.

Ngoài công thức trên, tôi có thể nêu ra 1 vài công thức do các đạo sư tây tạng truyền dạy lại. Các công thức này đều xuất khởi bắt nguồn từ câu thần chú gốc, chỉ khác về tiếng địa phương: của ng Tạng dùng tiếng Tạng, của ng Việt thì dùng tiếng Việt cho tâm thức dễ dàng thu nhận. 


1. Định thức thứ nhất: 


Om - Täre Tuttare Ture - Sarva...... śāntim Kuru - Svāhā

(Sarva có nghĩa là khiến cho...., santim kuru có ý nghĩa trừ tai nạn/chướng ngại - bảo mệnh hộ thân, chủ về phòng trừ)

Trừ Quỷ Thần: Om - Tare Tuttare Ture - Sarva grahān śāntim Kuru - Svāhā. 


Trừ chướng nạn: Om - Täre Tuttare Ture - Sarva vighnän śāntim Kuru - Svāhā. 


Trừ bệnh tật truyền nhiễm : Om – Täre Tuttāre Ture - Sarva vyādhīn śāntim Kuru - Svāhā. 


Trừ nhiệt bệnh: Om - Täre Tuttare Ture - Sarva jvarān śāntim Kuru Svāhā. 


Trừ bệnh hoạn: Om - Täre Tuttare Ture - Sarva rogān śāntim Kuru 


- Trừ phiền não: Om - Täre Tuttare Ture - Sarva upadravān śāntim Kuru - Svāhā. 


Svāhā. Trừ sự chết yểu phi thời: Om – Tăre Tuttare Ture - Sarva akāla-mrtyün śāntim Kuru - Svāhā. 


Trừ giấc mơ xấu: Om – Täre Tuttare Ture - Sarva duşvapanān śāntim Kuru - Svāhā. 


Trừ sự Bất Tường: Om – Tăre Tuttare Ture - Sarva durni mittāni śāntim Kuru - Svāhā. 


Trừ sự lầm lẫn: Om - Täre Tuttare Ture - Sarva cittā kulāni śāntim Kuru - Svāhā. 


2 Định thức thứ hai: 


Om - Tare Tuttare Ture - Sarva...........Rakşam Kuru - Svāhā

(Raksam kuru cũng có ý nghĩa là trừ tai nạn, tuy nhiên khác với santim kuru, raksam mang nghĩa về diệt trừ, hàng phục, ví dụ ai đang gặp nạn quan tư thị phi dùng cái này diệt trừ họa ách đập tan thị phi cũng được) 


Trừ oan gia và kẻ thù: Om – Täre Tuttare Ture - Sarva śatrübhyo Rakşam Kuru - Svāhā 


Trừ chất độc, các loại độc: Om Rakşam Kuru - Svāhā Täre Tuttare Ture - Sarva vişebhyo 


Trừ Chú Trớ Yểm Đảo: Om Täre Tuttare Ture Sarva krtyā-kākhordebhyo Rakşam Kuru - Svāhā 


Trừ binh trận: Om - Tare Tuttare Ture - Sarva yudhebhyo Rakşam Kuru - Svāhā 


Trừ sự phiền não tai nạn: Om Täre Tuttare Ture Sarva bhaya upadrvaebhyo Rakşam Kuru - Svāhā 


Trừ hành động xấu ác: Om Tare Tuttare Ture Sarva duşkrtebhyo Rakşam Kuru - Svāhā 


3 Định thức thứ ba: 


Om - Tare Tuttare Ture .......Svāhā.

(Định thức này có thể được sử dụng cho tất cả mục đích như tức tai, tăng ích, kính ái, hàng phục) 


Om - Täre Tuttare Ture - Sarva bhaya vimocana - Rāja, caura, Agni, Vişa, Udaka bhayāni praśamaya - Svāhā. 


(Om Tare Tuttāre Ture – Vượt thoát mọi sự sợ hãi, chận đứng, tiêu diệt sự sợ hãi 


về: vua chúa, trộm cướp, lửa, thuốc độc, nước - Svāhā) 


Om - Tare Tuttare Ture - Sarva bandhana - Tadana - Rāja, Taskara, Agni, Udaka, Vişa śastrāni parimocaka - Svāhā.

(Om Tāre Tuttāre Ture – Vượt thoát mọi sự trói buộc, sự đánh đập, vua chúa, trộm cướp, lửa, nước, thuốc độc, dao gậy - Svāhā) 


Om - Täre Tuttare Ture - Sarva pāpam Avaraņa viśuddhe - Svāhā. 

(Om Tāre Tuttāre Ture – Tinh lọc hoàn toàn mọi tội lỗi và chướng ngại – Svāhā) 


Om - Täre Tuttare Ture mama dhana sarva cora bandha Svāhā 

(Om Tare Tuttāre Ture _Cột trói tất cả giặc cướp của cải của tôi _ Svāhā) 


Om - Täre Tuttāre Ture Asmān apakāra sarva cora bandha Svāhā 

(Om Tāre Tuttāre Ture Cột trói tất cả trộm cướp, kẻ gây ra thiệt hại cho chúng tôi _ Svāhā) 


Om - Tare Tuttare Ture_Dhanam me Dehi - Svāhā 

(Om Tāre Tuttare Ture - Hãy ban cho tôi sự giàu có - Svāhā) 


4 Đình thức thứ tư: 


Om - Tare Tuttare Ture ...... Puşţim Kuru - Svāhā.

(Pustim kuru có ý nghĩa là sở cầu như ý, dùng vào các mục đích tăng ích, chiêu tài) 


Tăng trưởng Thọ Mệnh, Phước Đức, Trí Tuệ: Om – Tăre Tuttare Ture - Mama Ayuh punye jñāna Puşțim Kuru - Svāhā. (Câu này chính là của bổn tôn Tara trắng) 


Tăng trưởng năng lực Công Đức: Om – Tăre Tuttare Ture -punya Puşțim Kuru - Svāhā. 


Tăng trưởng Trí Tuệ: Om – Täre Tuttare Ture -Prajña Puşțim Kuru Svāhā. 


Tôn chỉ về pháp của Hoàng Thần Tài chính là: muốn được tài thì phải thí tài và xả tài, bỏ đi tâm keo kiệt ích kỷ của bản thân. Một phương pháp đơn giản để thực hành là bạn nên mua 1 hòm công đức nho nhỏ để bàn thờ ngài, mỗi lần hành trì bạn sẽ cúng dường lên ngài ít tiền, vd ban đầu là 2k, 3k, có điều kiện hơn thì bỏ 10k, 20k, 50k,... mỗi ngày như vậy tích tụ lại đến các ngày m1, 15 âm thì bạn lấy số tiền đã tích lũy được trong hòm công đức mua đồ phóng sinh (vd: lươn, ốc, ếch, cá,....) và hồi hướng cầu nguyện. Mỗi tháng thực hành phóng sinh 1-2 lần, có điều kiện thì nhiều hơn. Ngoài ra có thể dùng số tiền đó bố thí cho những người nghèo khổ, hoặc công đức các nơi đền chùa,.... Số tiền này chỉ dành vào việc thí tài, không nên lấy đó để dùng vào mục đích cá nhân. Dần dần bạn sẽ thấy tài lộc của bạn tăng trưởng, công việc thuận lợi. 

Về công thức thần chú của ngài có công thức như sau:

Om zam ba la za len đa yê......(mong nguyện) soa ha

Ví dụ:

1. Om zam ba la za len đa yê "giàu có thịnh vượng" soa ha

2. Om zam ba la za len đa yê "công việc thu nhập cao"soa ha

3. Om zam ba la za len đa yê "trúng số độc đắc" soa ha

4. Om zam ba la za len đa yê "thu nhập 100 triệu mỗi tháng" soa ha

Một công thức khác từng được một đạo hữu chia sẻ là : 

Om yak sa zam ba la za len đa yê mani......(mong nguyện) soa ha

(Yak sa nghĩa là Dạ xoa, ám chỉ ngài là vua của chúng Dạ Xoa, Mani là viên ngọc báu như ý)

Đã từng có 1 vài đạo hữu học theo công thức này để trúng số độc đắc, hành trì liên tục mới chỉ trong 2 tuần thì họ đã trúng số liên tục, tuy không phải số độc đắc nhưng cũng đã giúp họ gặp may mắn rất nhiều, huống chi là 100 ngày trở lên

Mỗi ngày hành trì 1080 thần chú. Sau 100 ngày sẽ thấy tài lộc, thu nhập của bạn được cải thiện rất nhiều. Tùy vào mong nguyện bạn đưa vào thần chú sẽ giúp bạn từng bước được thỏa mãn mong cầu đó. Tuy nhiên, đừng quên bố thí học cách xả tài, có vậy thì tài bảo bạn kiếm được mới bền vững và càng ngày càng sung túc đủ đầy. 


Tương tự như 2 bổn tôn trên, thần chú của Chuẩn Đề Phật Mẫu cũng sẽ giúp viên mãn mọi mong cầu với công thức sau:

Om cha lê chu lê chun đê..... soa ha

Đây là công thức chung cho các pháp về tức tai, tăng ích, kính ái, hàng phục. Ngoài ra các bạn có thể áp dụng như theo pháp của Tara: 


1. Tức Tai: 

OṂ_ CALE CULE CUṄDHE (Khiến cho…) ŚĀNTIṂ KURU _ SVĀHĀ 


2. Tăng ích:

OṂ_ CALE CULE CUṄDHE (Khiến cho….) PUṢṬIṂ KURU _ SVĀHĀ 


3. Kính ái:

OṂ_ CALE CULE CUṄDHE ( Khiến cho…. ) VAŚI KURU _ SVĀHĀ

(Vasi kuru là nhiếp triệu ai đó thành tựu mong cầu của mình, bạn có thể nhiếp triệu vị thần nào đó hoặc nhiếp tâm 1 người nào đó có duyên với bạn mà bạn muốn thu hút, như crush, người bạn thương hoặc có thể muốn thân thiết với 1 người nào đó như bạn bè, đồng nghiệp, cấp trên,....) 


4. Hàng phục:

OṂ_ CALE CULE CUṄDHE HŪṂ PHAṬ 


(Hum phat được dùng trong các câu chú về hàng phục, vd kẻ thù, oan gia,...tuy nhiên không nên sử dụng định thức này nếu chưa được thọ các pháp về phẫn nộ, giáng phục) 


Và tôi vẫn khuyên dùng câu chú căn bản để dễ truyền tải hơn thay vì sử dụng các định thức riêng biệt theo từng mục đích khác nhau. 


Nếu các bạn tìm hiểu về tự kỷ ám thị sẽ hiểu việc lặp đi lặp lại 1 ý muốn bất kỳ bằng lời nói mỗi ngày sẽ hấp thụ nó xuống dưới phần tiềm thức và khiến tiềm thức hoạt động, 1 khi tiềm thức hoạt động thì tần số năng lượng sẽ được nâng cao để đạt được điều tương đồng đúng với ý muốn bạn phát ra, giống như bạn truyền tải thông điệp vào vũ trụ và đón nhận lại sự phản hồi của vũ trụ trở ngược lại bạn. Thì sự vận hành của các thần chú cũng vậy, tuy nhiên ở đây chúng ta không chỉ có sự giúp sức của vũ trụ mà còn có cả tha lực của chư Phật hỗ trợ giúp bạn đạt được điều bạn muốn, thần chú ấy được thuyết ra từ tâm của chư Phật sẽ càng mạnh mẽ hơn vì nó mang theo cả những hạnh nguyện thành tựu của các ngài. Não bộ chúng ta là tổng thể không gian đa chiều, để từng bước mở ra các chiều không gian này thì ý thức của chúng ta phải được học và tiếp thu đầy đủ tri thức để đủ năng lực mở khóa từng chiều không gian trong tiềm thức. Thậm chí tiềm thức nó hiểu được tất cả các loại ngôn ngữ dù ý thức của bạn không hề được học. Đó cũng là 1 bí mật về việc tạo lập và hình thành các hóa thân...nếu bạn nắm giữ được các chìa khóa này, bạn sẽ có khả năng tu luyện để trở thành các hóa thân Phật, tự thân bạn sẽ có gia trì của chư Phật, bạn có thể trở thành hóa thân của Tara, Quan Âm,... hay bất kỳ vị nào bạn tôn thờ.. Tôi đang trong quá trình nghiên cứu thử nghiệm về loại công thức mới để khai mở các chiều không gian này, bạn của tôi đã từng có người áp dụng và tự thân họ có phép thuật, họ không thực hành tu luyện phép thuật ngày nào nhưng nhờ phương pháp này họ biết dịch chuyển tức thời ngay trong 1 khoảnh khắc, vì đang trong quá trình thử nghiệm nên tôi sẽ không công khai. Viết đến đây có lẽ dài rồi, chúc các bạn ngày mới vui vẻ, cám ơn đã quan tâm theo dõi.


Share:

KHÔNG HÀNH MẪU (DAKINI) VÀ PHÁP SONG TU

 

Dakini là gì ?

Trong các pháp tu của Mật tông Kim Cương Thừa các vị sư có một pháp môn đặc biệt gọi là nam nữ song tu. Một hành giả nam sẽ chọn một người phối ngẫu nữ (consort) để cùng nhau tu tập. Người nữ tiếng Phạn gọi là Dakini phiên dịch ra âm Hán là Đồ kiết ni 荼吉尼 dịch nghĩa là Không hành nữ 空行女 hoặc Không hành mẫu 空行母 Người phương tây dựa vào những hình vẽ mô tả những người nữ này, thường là khỏa thân và bay bướm có khi bay trên trời mà gọi là Flying dakini ý nói người nữ bay trong không gian. Có thể có dakini đã chứng quả A La Hán có thể bay lên không trung.

Không hành nữ là người nữ giúp đạt tới tánh không bằng biểu tượng thăng hoa bay trên không trung   

Ý nghĩa đích thực của Dakini Không hành nữ là người phối ngẫu nữ song tu với hành giả nam để cùng đạt tới nhận thức tánh không. Không 空 là tánh không chứ không phải là không trung.

Dakini có mười hạng trong đó 7 hạng đầu thuộc dakini thiện còn 3 hạng sau thuộc dakini ác.

Bậc cao nhất là Jnana Dakini (Trí đồ kiết ni 智荼吉尼) nàng có lòng từ bi, nếp sống thanh tịnh, giữ gìn giới đức, nước da trắng hồng, rất khêu gợi bởi các đường cong rõ nét. Người thường không tu tập giao hợp với nàng sinh ra con cái xinh đẹp nhiều hạnh phúc. Đức Bà Yeshe Tsogyal là một dakini bậc này.

Mật tông Kim Cương Thừa Tây Tạng có một phương pháp tu hành cần tới người phối ngẫu là các dakini như nói trên.

Jnana dakini là không hành mẫu bậc nhất trong 10 hạng dakini

Bậc thứ năm là Padma Dakini (Liên hoa đồ kiết ni 蓮花荼吉尼) nàng có da màu hồng sáng sạch, thân thể trơn mịn, thân hình nhỏ gọn, bụng thon, mông rộng. Rất dâm dục và nói hơi nhiều. Người thường không tu tập, giao hợp với nàng sẽ sanh ra nhiều con trai. 

Padma dakini là bậc thứ 5 trong 10 hạng dakini

Bậc thứ bảy trong dakini thiện là Loka Dakini (Thế gian đồ kiết ni 世間荼吉尼) nàng có khuôn mặt trắng và rạng rỡ, thường nở nụ cười, là đứa con hiếu thảo với cha mẹ, tròn bổn phận với bạn bè. Nàng là người có thể tin cẩn được và tiêu xài rộng rãi. Người thường không tu tập, giao hợp với nàng chắc chắn có con nối dòng, tạo ra lắm thức ăn và sự giàu sang.

Loka dakini

Hình ảnh dakini ngày xưa và dakini ngày nay bái sư để học pháp :

Dakini ngày xưa bái sư học pháp

Padma dakini (eo thon, mông to) ngày nay bái sư học pháp

Do lai của pháp tu

Nguồn gốc của pháp tu là sự mô phỏng chống lại các loại ái dục mà Đức Phật đã trải qua trong 49 ngày thiền định dưới cội Bồ Đề và cuối cùng giác ngộ giải thoát. Các ma vương nữ vây quanh ngài trong trạng thái khỏa thân đầy lôi cuốn, quyến rũ ngài vào đường tà. Có bức vẽ hiển thị tình huống này.

Đạo sư Mật tông bị các ma nữ quấy rối giống như thời kỳ Đức Phật ngồi thiền 49 ngày dưới cội bồ đề

Các đạo sư Mật tông thực hành phép tu vượt qua cửa ải ái dục bằng 2 phương pháp :

Karmamudrā (tiếng Phạn, Hán dịch là Sự nghiệp thủ ấn song thân pháp tu hành 事業手印雙身法修行pháp môn này phổ biến ở Tây Tạng, hành giả gọi là Las-kyi phyag-rgya Lạt ma pháp sư 喇嘛法師) là một kỹ thuật Phật giáo Kim Cương thừa về sự kết hợp thực hành với một người phối ngẫu thực tế hoặc chỉ là hình ảnh tưởng tượng gọi là Jnanamudra Hándịch là Trí huệ thủ ấn 智慧手印. Hành giả có thể thực hành cái gọi là yoga tính dục với một người phối ngẫu hoặc chỉ là tưởng  tượng suông không có người phối ngẫu (Jnanamudra). Nhận thức được bản chất thực sự là tánh không của ái dục trong tất cả các hình thức này biến niềm đam mê thông thường thành nền tảng cho trải nghiệm về đại lạc (大樂 maha sukha ), điều này giúp thúc đẩy nhanh chóng việc loại bỏ những chướng ngại về cảm xúc và tinh thần (dục lạc) trong thực hành của một người, thực hiện sự hợp nhất từ thể xác cho đến ý thức.

Đây là một vấn đề rất quan trọng, trong lúc giao cấu, hành giả phải đạt tới trạng thái tâm lý Ngũ uẩn giai không. Sắc, thọ, tưởng, hành, thức, đều là không. Số lượng cũng là không, hai thể xác, hai tâm hồn hòa làm một, cảnh giới không gian cũng là không, thời gian cũng là không. Trạng thái tinh thần đó lặp đi lặp lại mỗi lần giao hoan, đó là sự tu luyện để đạt tới tánh không của pháp giới.

Sự hành dâm giữa đạo sư và người phối ngẫu trở thành là một pháp tu, một phương tiện để đi đến kiến tánh, giác ngộ. Trong Pháp Bảo Đàn Kinh 法宝坛经 của Lục Tổ 六祖  tánh dâm này được mô tả là hạt nhân của thanh tịnh.

淫性本是淨性因 Dâm tánh bản thị tịnh tánh nhân Tánh dâm vốn là nhân của sự thanh tịnh

除淫即是淨性身 Trừ dâm tức thị tịnh tánh thân     Trừ dâm tức làm cho thân thành tánh thanh tịnh  

性中各自離五欲 Tánh trung các tự ly ngũ dục        Trong tánh (dâm thanh tịnh) này mỗi người tự rời bỏ ngũ dục [ngũ dục là tài (tài sản, tiền bạc), sắc (vật chất, sắc đẹp), danh (tiếng tăm), thực (ăn uống), thụy (mê ngủ) 

見性剎那即是真 Kiến tánh sát na tức thị chân. Thấy tánh thì trong sát-na tất cả đều là chân

Cặp nhũ hoa, cái âm hộ, dương vật, tinh khí, hành vi giao cấu, tất cả chỉ là hình tướng huyễn ảo của Phật tánh, tánh không chân như thanh tịnh, không khác gì tượng Phật, Bồ Tát. Tất cả hình tướng đều là không thật, đều là do tâm tạo, không thật sự có đặc trưng đặc điểm (Bát Nhã Tâm Kinh : bất cấu bất tịnh, ngũ uẩn giai không- không dơ không sạch, 5 tập hợp sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều là không)  

Dâm, người đời cho là nhơ nhớp, ô uế. Đó chỉ là điên đảo mộng tưởng phân biệt mê muội. Phật pháp nói rằng Nhất thiết pháp vô tự tính. Tất cả các pháp đều không tự có đặc điểm, đặc tính, đặc trưng gì cả. Vậy thì dâm cũng là thanh tịnh như lễ phật, ăn cơm, mặc áo, nghỉ ngơi, không có gì khác cả. Cái cảm tưởng, cảm giác khác, cho là ô uế không thanh tịnh là do tâm tạo, tâm tưởng tượng, chứ nó không có sẵn bản chất hay đặc tính như vậy.

Mật tông Kim Cương thừa dùng hành vi dâm (giao cấu) để luyện tập, nhận ra tánh thanh tịnh của nó (kiến tánh), tánh đó cũng chính là Phật tánh, vô phân biệt, chân thật bất nhị.    

Hành giả có thể tượng tượng ra người phối ngẫu (jnanamudra) hoặc có người phối ngẫu thật (karmamudra)

Nhân vật lịch sử

Trong lịch sử Phật giáo Tây Tạng, đạo sư Guru Rinpoche (Liên Hoa Sinh 蓮華生 Padmasambhava, không biết rõ năm sinh năm mất, chỉ biết ông từ Ấn Độ đến Tây Tạng dưới triều đại Trisong Detsen, 742 đến 797CN ) và người phối ngẫu của ông Yeshe Tsogyal (757-817CN) là những nhân vật nổi tiếng nhất trong phép tu này.

Guru Rinpoche (Padmasambhava, Liên Hoa Sinh)

Yeshe Tsogyal (Y Hỉ Thố Gia)

Đức Bà Yeshe Tsogyal là một Dakini nổi tiếng, được sùng bái và được xếp vào bậc cao nhất là Jnana Dakini (Trí đồ kiết ni 智荼吉尼)

Có một số hình ảnh giao hoan tu tập giữa hai vị này được vẽ và lưu truyền

Padmasambhava (Liên Hoa Sinh, Guru Rinpoche) và Yeshe Tsogyal mantra (1)

Padmasambhava (Liên Hoa Sinh, Guru Rinpoche) và Yeshe Tsogyal mantra (2 blue)

Những hành giả không có người phối ngẫu phải tưởng tượng hình dung ra đối tác phối ngẫu (consort)  gọi là Mantra (咒語 chú ngữ) mà nhiều hành giả sử dụng.

Có những mantra người ta vẽ thể hiện rõ cả bộ phận sinh dục nữ vì bộ phận đó là vật trung tâm của phép tu nên được chú trọng gọi là mantra dakini.

Dakini khỏa thân chính diện (1)

Dakini khỏa thân chính diện (2)

Có những mantra diễn tả các tư thế giao hợp cho dễ hình dung bởi vì nhiều hành giả không có người phối ngẫu.

Các tư thế mantra

Mục đích của phép tu này là đạt tới vô sở trụ bằng dâm căn của thân tức là bằng linga (dương vật) và yoni (âm hộ). Vô sở trụ tức là Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm. Nhận ra chân tâm hay Phật tánh mới đích thực là mình. Tại sao phải cần hai người ? Hai người là số nhiều, có số lượng, họ phải phá bỏ số lượng bằng cách hợp nhất (bất nhị). Họ phải phá bỏ cảnh giới (không gian, hoàn cảnh, trang nghiêm và ô trọc không còn phân biệt), họ phải phá bỏ thời gian (đốn ngộ).  Hai thể xác hợp nhất, dương vật và âm hộ lồng vào nhau thành một, tinh dịch của nam và tinh khí của nữ hòa trộn vào nhau, hai tâm hồn cũng hòa nhập vào nhau không còn ranh giới.

Đạt tới cảnh giới bất nhị, vô sở trụ , tánh không, tâm như hư không vô sở hữu mới chính là cứu cánh của phép tu đặc biệt này.   

Đa số mantra diễn tả sự giao hợp trong tư thế ngồi thiền.

Tiêu biểu là mantra của Guru Rinpoche và Yeshe Tsogyal

Mantra này diễn tả sự giao hợp giữa Đạo sư Guru Rinpoche mà Hán dịch là Liên Hoa Sinh 蓮花生 và Đức Bà Yeshe Tsogyal Hán dịch là Y Hỉ Thố Gia 伊喜措嘉 hoặc Ích Tây Thố Kiệt 益西措杰 trong tư thế ngồi thiền. Bà là Jnana dakini nước da màu hồng sáng là dakini đệ nhất. 

Tóm lại phép tu đặc biệt này dùng dâm căn để nhận ra tánh thanh tịnh vô nhiễm vô phân biệt để đi đến kiến tánh. Các hành giả tu tập vô phân biệt trí nhận chân bản thể thanh tịnh của những bộ phận cơ thể hoặc hành vi mà người đời có thói quen coi là ô trược đáng xấu hổ, nhưng các nam nữ hành giả này ứng dụng Bát Nhã Tâm Kinh (bất cấu bất tịnh- không dơ không sạch) xem là bình thường và có thể phô bày thành mantra để các hành giả khác hình dung.

Nếu Bồ Tát Quán Thế Âm tu theo pháp môn nhĩ căn viên thông dùng tai nghe để quán thông cả lục căn thì Đạo sư Liên Hoa Sinh và Không hành mẫu Y Hỉ Thố Gia tu theo pháp môn thân căn viên thông với bộ phận sinh dục nam là linga (dương vật) và bộ phận sinh dục nữ là yoni (âm hộ) để quán thông lục căn đạt tới kiến tánh. Tại sao dùng linga và yoni để tu luyện vì đây là bộ phận trung tâm của nam và nữ hàm chứa rất nhiều năng lượng. Chế phục được thân căn này thì sự tu tập rất mau tiến bộ đến giác ngộ. 

Nếu bên giáo môn dạy phải giải trừ sắc dục thì bên mật tông lại dùng sắc dục như một phương tiện thiện xảo để đi đến giác ngộ giải thoát. Tuy nhiên để có thể dĩ độc trị độc hành giả cũng phải đạt được một trình độ nhất định trên đường tu, nếu không thì rất dễ sa ngã rơi vào tà đạo.

Không phải chỉ có ở Tây Tạng mới có pháp song tu. Ở Nhật Bản một thiền sư nổi tiếng, giác ngộ, cũng có cách hành xử khác thường tương tự như Karmamudra Mật tông Tây Tạng.  

Thiền sư Ikkyu Sojun ở Nhật Bản (1)

Thiền sư Ikkyu Sojun ở Nhật Bản (2)  

Ở TQ cũng có những trường hợp tương tự. Bậc giác ngộ không còn phân biệt hình tướng.

Trong triều đại nhà Tống có nhà sư, được coi là hóa thân của Bồ Tát Văn Thù, đó là nhà sư nổi tiếng Giới Đồ Lê 戒阇黎 quê ở Lâm Hải, Thai Châu 台州临海 thời Nam Tống (1127–1279). Trước khi xuất gia Giới Đồ Lê họ Lâu, cha là Lâu Nguyên Hựu 娄原佑, nổi tiếng là người tốt trong vùng. Cả đời ông Lâu Nguyên Hựu làm từ thiện, thích trai tăng (làm tiệc chay đãi các vị tăng) chỉ tiếc là vợ chồng ông sau nhiều năm chung sống vẫn chưa có con. Ông đã cầu khấn và bà vợ có lần chiêm bao thấy ôm vầng trăng vào lòng, sau đó có mang sinh được con trai đặt tên là Đốn Cát 顿吉. 

Đứa trẻ này ngay khi mới sinh ra đã biết nói: “Lành thay cha mẹ, đã cưu mang sinh ra tôi, đã cứu giúp nhiều người, là dị nhân hiếm có trên đời.” Sự kiện này khiến vợ chồng ông Lâu vừa mừng vừa lo, mừng là đứa trẻ vừa sinh ra đã biết nói, nhưng họ lại lo xuất thân phi phàm của nó,họ lo lắng là bốn câu này mang đầy ý nghĩa Phật giáo, sợ rằng con sớm muộn cũng bỏ cha mẹ theo đạo Phật tu hành.

Quả vậy đứa trẻ về sau trở thành nhà sư lỗi lạc Giới Đồ Lê. Nhưng ông ta không tuân theo các quy tắc như các nhà sư bình thường, trái lại, ông ta không bao giờ tuân thủ giới luật, ông ta không ăn chay mà hay ăn đầu heo và uống rượu ngon. Ông được người ta gọi là “Nhà sư đầu lợn” (Trư đầu hòa thượng 猪头和尚). Giới Đồ Lê không hề khó chịu khi nghe tai tiếng này mà còn bật cười khoái trá.

Nhà sư ăn thịt uống rượu cũng chưa đủ kinh dị, càng bại hoại tăng đoàn hơn chính là việc Giới Đồ Lê không sợ thiên hạ dị nghị, thu nữ đệ tử, và hai người thường đi chung, ở chung với nhau. Nữ đệ tử này tên là Chu thất nương 周七娘, và lai lịch của cô ấy cũng khá phi thường. Cô sinh ra trong một gia đình thuần thành Phật giáo, cô từ nhỏ đã thông minh đĩnh ngộ tuyệt vời, nhưng cô phát nguyện khi lớn lên sẽ không lấy chồng, hàng ngày đi xin ăn trên đường phố và hát nhạc Phật giáo. Mọi người đều nghĩ chắc cô ấy bị điên, nhưng Giới Đồ Lê lại rất ngưỡng mộ cô và thu nhận cô làm đệ tử.

Giới Đồ Lê và Chu Thất nương

Một lần, Giới Đồ Lê và Chu Thất nương ra ngoài phố và ăn một bữa no nê món tôm luộc tại một quán ăn trên phố, khi họ lấy tiền ra trả thì thấy ví không có tiền, chủ quán rất tức giận và không cho họ đi. Nhưng rồi, Giới Đồ Lê cười nói: “Không có tiền, nhưng thí chủ muốn vật gì?” Chủ quán nói: “Ta muốn ngươi bồi hoàn tôm sống cho ta!”

Giới Đồ Lê và Chu Thất nương nhìn nhau cười, xong họ ngồi xuống, và không ngừng phun ra từ miệng những con tôm còn sống tươi rói, chủ quán và những người xung quanh sợ hãi, đồng loạt quỳ xuống và kêu lên “Thần tiên ! Thần tiên !”. Giới Đồ Lê cười nói, “Bây giờ tôi đã trả lại tôm sống cho ông rồi đó.” Sau đó, ông và nữ đồ đệ vừa đi vừa hát mà không nhìn lại.

Khi Giới Đồ Lê viên tịch, những người khác đã báo tin này cho Chu Thất nương, nữ đệ tử biết tin không buồn chút nào, ngược lại, cô ấy vừa hát vừa cười. Hát xong, cô an tọa dưới dạ cầu Phổ Tế mà tịch luôn.

Sau đó có một nhà sư lạ mặt xuất hiện trên đường phố Thai Châu và hát lớn: “Sư phụ Giới, Văn Thù, Chu bà, Phổ Hiền.” Bấy giờ mọi người mới hiểu ra họ chính là Văn Thù Bồ Tát và Phổ Hiền Bồ Tát hóa thân giáo hóa người đời, dạy mọi người về vô phân biệt trí.

Họ giáo huấn điều gì ? Họ muốn hiển thị cho mọi người hiểu rằng đừng có chấp tướng, đừng có chấp thật, các pháp chỉ là vọng tưởng thôi, không có thực chất, bởi vì Nhất thiết pháp vô tự tính 一切法無自性 nghĩa là Tất cả các pháp đều không có đặc điểm, đặc trưng, tính chất riêng. Mọi đặc điểm của các pháp đều là do tâm tạo.


Share:
Main Ad ➤ Click "VÀO ĐÂY" Doanh nhân và Thương hiệu ASEAN luôn cập nhật

Quốc Gia Truy Cập

Flag Counter

Bài đăng nổi bật

Cách đưa Webite lên Index

  Để đưa một website lên Google Index (xuất hiện trên kết quả tìm kiếm), bạn cần thực hiện theo quy trình chuẩn gồm 4 bước chính sau đây. 1....

Bài mới đăng

Flag Counter

Lưu trữ Bài viết

Tổng số lượt xem trang

Ủng Hộ Chúng Tôi

Liên hệ Nhà thơ Hoàng Huy

Tên

Email *

Thông báo *

Cho Đặt Banner Quảng cáo

Like Fanpage Phong Thủy để cập nhật các thủ thuật mới nhất mỗi ngày OK Để sau