Luật Gia. Liz Quiehui có tên thật là Hoàng Quốc Huy, tên phiên âm là Lý Thu Tuệ

Blog

Main Ad ➤ Click "VÀO ĐÂY" Doanh nhân và Thương hiệu ASEAN luôn cập nhật

Luật Hôn Nhân Công Giáo và những điều cần biết phần 2

 

MỤC VỤ HÔN NHÂN

TRƯỚC KHI CỬ HÀNH BÍ TÍCH HÔN NHÂN



Liên quan tới những người dự định kết hôn

Quyền kết hôn và lập gia đình là một quyền căn bản của con người được Giáo luật và Dân luật tôn trọng và bảo vệ. Do đó, những ai không bị luật cấm đều có quyền kết hôn, tuy nhiên chúng ta cần phải xem người đó có liên quan tới những qui định của giáo luật:

1.  Về tuổi tác : Điều luật 1083 §1 hạn định tuổi kết hôn là người nam tròn 16 tuổi, người nữ tròn 14 tuổi, tuy nhiên §2 trao cho HDGM quyền ấn định tuổi phù hợp với quốc gia, nền văn hóa nước đó. Tại Việt-Nam, HDGM VN ấn định người nam 20 tuổi và người nữ 18 tuổi kết hôn hợp thức; nếu có trường hợp đặc biệt phải xin phép Đấng Bản Quyền Giáo phận.

2. Về sức khỏe: Người nam và người nữ phải là những người lành mạnh và trưởng thành về tâm sinh lý. Trên nguyên tắc dù người nam hay người nữ mắc bệnh gì cũng có quyền kết hôn, với điều kiện là người phối ngẫu đã được thông báo trước và vẫn đồng ý kết hôn (bệnh xã hội…). Tuy nhiên, với một người không có khả năng sống đời vợ chồng (như điên khùng hay bất lực giao hợp vĩnh viễn) thì tiêu hủy hôn nhân (đ.1084)

3. Về sự tự do kết hôn : Các đương sự phải được tự do chọn lựa kết hôn, có nghĩa tự do chọn lựa vợ chồng. Mọi hình thức gây áp lực tâm, thể lý ảnh hưởng đến sự tự do kết hôn đều vi phạm nhân phẩm con người, và làm cho hôn nhân vô hiệu. Việc đính hôn hay lễ ăn hỏi không nhất thiết buộc phải kết hôn, mà chỉ có quyền đòi đền bù thiệt hại nếu việc kết hôn không thành.

4. Về huyết tộc : Hội Thánh cấm kết hôn với người có liên hệ huyết tộc trực hệ (họ máu hàng dọc) dù pháp lý hay tự nhiên; hay có liên hệ bàng hệ (họ máu hàng ngang) đến đời thứ bốn: sự kết hôn vô hiệu (đ.1091). Như vậy, không ai có quyền kết hôn với con ruột, con nuôi, con ngoại hôn của mình; không được kết hôn với cháu nội hay cháu ngoại, với anh chị em ruột của mình.

5. Về liên hệ hôn nhân: Các đương sự phải là những người chưa kết hôn hoặc đã kết hôn mà người phối ngẫu đã chết. Không được kết hôn với họ hàng trực hệ của người phối ngẫu đã chết. Giáo hội cũng cấm việc kết hôn với người họ hàng trực hệ của người đã sống chung như vợ chồng hay tư tình công khai với mình.
Người ly thân và ly dị không được tái hôn (vì dây hôn phối vẫn còn tồn tại bao lâu người phối ngẫu chưa chết hoặc chưa được tháo gỡ dây hôn phối vì hà tỳ trong hôn nhân). Người còn vướng mắc nghĩa vụ liên quan đến hôn nhân (không chu cấp cho con ngoại hôn sinh kiện cáo), có thể bị Giáo hội từ chối, chưa cho phép kết hôn.

6. Về sự hiểu biết liên quan tới hôn nhân: Các đương sự phải hiểu rõ hôn nhân là gì, các điều kiện cần phải có, ý nghĩa của lời ưng thuận, các nghĩa vụ và quyền lợi của đời sống vợ chồng. Chúng ta đều biết,  sau tuổi dạy thì có thể suy đoán là có sự hiểu biết này.

7. Về tôn giáo : Tôn giáo ảnh hưởng rất quan trọng tới đời sống hôn nhân, nhất là khi quan niệm về hôn nhân giữa hai tôn giáo khác nhau (công nhận đa thê, ly dị). Giáo hội Công giáo mong ước những người cùng niềm tin kết hôn với nhau; đồng thời cũng cho phép kết hôn với người khác đạo hoặc cùng Kitô giáo nhưng không hiệp thông với Hội Thánh Roma. Hôn nhân với người chưa được Rửa tội mà không có phép chuẩn thì không có giá trị trước mặt Giáo hội. Những người đã thề hứa sống độc thân (phó tế, linh mục và tu sĩ khấn trọn đời) phải xin miễn chuẩn đặc biệt để kết hôn thành sự.

8. Về thủ tục: việc kết hôn Công giáo phải được Rao công khai ở những nơi đương sự sống thời gian lâu dài. Tại Việt-Nam, phải rao trong Nhà thờ xứ Ba tuần, (việc rao 2 lần hay 1 lần tùy quyết định của Giám mục Giáo phận). Trong mục vụ, cần yêu cầu đôi bạn phải những giấy tờ sau:
– Giấy chứng nhận Rửa tội và Thêm sức mới cấp chưa quá sáu tháng.
– Hộ khẩu và chứng minh nhân dân (nếu linh mục không biết mặt đương sự)
– Giấy giới thiệu của Cha xứ mỗi đương sự, nếu ở giáo xứ khác chuyển đến xác nhận tình trạng độc thân của đương sự.
– Khi quyết định ngày chứng hôn theo Giáo luật, có giấy Đăng ký kết hôn dân sự.
– Nếu được nhờ chứng hôn, phải có giấy Ủy quyền của Cha có trách nhiệm và giấy chứng nhận đã học giáo lý căn bản và giáo lý hôn nhân.

Về phía các vị chủ chăn

Các vị chủ chăn tôn trọng quyền được kết hôn theo nghi thức tôn giáo của các đương sự, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho họ kết hôn theo đúng thủ tục của Giáo hội; đồng thời lo cho họ học hỏi về giáo lý hôn nhân và giúp đỡ họ thêm về đời sống đức tin trong thời kỳ chuẩn bị bước vào đời sống hôn nhân.


Các linh mục (đặc biệt cha xứ hoặc cha phụ trách) có bổn phận giúp đỡ đôi bạn và chuẩn bị nghi thức hôn phối như sau:

– Giúp họ xác định niềm tin Kitô giáo và chuẩn bị cho họ có một đức tin trưởng thành. Nếu họ chưa được lãnh Bí tích Thêm sức, phải lo liệu cho họ nhận Bí tích này trước khi kết hôn, vì họ sẽ trở nên chứng nhân đức tin và giáo dục đức tin cho con cái. Lưu ý vị chủ chăn KHÔNG được phép cử hành hôn phối cho người đã công khai chối bỏ đức tin Kitô giáo.

– Giúp họ ý thức về hôn nhân và chuẩn bị đảm nhận những nghĩa vụ vợ chồng và cha mẹ trong gia đình Kitô giáo.

– Phải điều tra hôn phối về đôi bạn, để chắc chắn đôi bạn không có ngăn trở gì. Rất mong các Cha thuộc các Giáo phận, giáo xứ khác nhau có bổn phận giúp đỡ lẫn nhau vì luật, vì trách nhiệm, vì tình huynh đệ cũng như tạo nên hình ảnh vị mục tử nhân hiền, nhẫn nại cho các đôi bạn chuẩn bị bước vào Hôn nhân.

– Chuẩn bị việc cử hành hôn nhân tốt đẹp theo quy tắc Phụng vụ.

Về phía gia đình và cộng đoàn dân Chúa

Gia đình phải tôn trọng quyền kết hôn và quyền tự do chọn lựa bạn đời của các đương sự; gia đình có trách nhiệm giáo dục và hướng dẫn chứ không được quyết định thay con cháu mình.

Cộng đồng dân Chúa sẵn sàng giúp đỡ các đương sự, nếu có gì ngăn trở việc kết hôn thì buộc phải trình lại với Cha xứ hoặc Cha phụ trách hôn nhân. Cộng đoàn sẽ có mặt trong ngày cử hành Hôn nhân để chứng giám, và cầu nguyện cho đôi tân hôn.

Share:

Luật Hôn Nhân Công Giáo và những điều cần biết phần 1

 Luật Hôn Nhân Công Giáo và những điều cần biết về Luật Hôn Nhân Công Giáo. Phần cuối bài viết về Luật Hôn Nhân Công Giáo sẽ có những câu hỏi và đáp của các Cha về Luật Hôn Nhân Công Giáo. Những câu hỏi được quan tâm nhiều nhất về Luật Hôn Nhân Công Giáo ở cuối bài viết.

Ý NGHĨA CỦA HÔN NHÂN

 Con người là hình ảnh của Thiên Chúa

 Thiên Chúa đã tạo dựng nên con người theo hình ảnh Ngài (St 1, 26-27); chính vì tình yêu mà Thiên Chúa đã cho con người bước vào cuộc sống với huyền nhiệm của tình yêu vì Thiên Chúa là Tình Yêu (1 Ga 4,8). Khi Thiên Chúa tạo dựng con người có nam có nữ theo hình ảnh Ngài, Thiên Chúa đã ghi dấu nơi đó ơn gọi và những khả năng và trách nhiệm để mời gọi con người sống tình yêu và hiệp thông theo Hình ảnh Tình Yêu và Hiệp thông của Ba Ngôi Thiên Chúa. Chính tình yêu thương đã trở nên căn tính và bẩm sinh của con người. Con người có linh hồn biểu lộ nơi thân xác, nên được mời gọi sống yêu thương biểu lộ con người là đỉnh cao của công cuộc sáng tạo của Thiên Chúa trước toàn thể tạo vật hữu hình. Con người được khai sinh từ lời mời gọi bước vào sự hiện hữu có nam có nữ, bình đẳng với nhau và đều được sáng tạo theo hình ảnh của Thiên Chúa.

Thiên Chúa đã tạo dựng nên con người theo hình ảnh Ngài (St 1, 26-27); chính vì tình yêu mà Thiên Chúa đã cho con người bước vào cuộc sống với huyền nhiệm của tình yêu vì Thiên Chúa là Tình Yêu (1 Ga 4,8). Khi Thiên Chúa tạo dựng con người có nam có nữ theo hình ảnh Ngài, Thiên Chúa đã ghi dấu nơi đó ơn gọi và những khả năng và trách nhiệm để mời gọi con người sống tình yêu và hiệp thông theo Hình ảnh Tình Yêu và Hiệp thông của Ba Ngôi Thiên Chúa. Chính tình yêu thương đã trở nên căn tính và bẩm sinh của con người. Con người có linh hồn biểu lộ nơi thân xác, nên được mời gọi sống yêu thương biểu lộ con người là đỉnh cao của công cuộc sáng tạo của Thiên Chúa trước toàn thể tạo vật hữu hình. Con người được khai sinh từ lời mời gọi bước vào sự hiện hữu có nam có nữ, bình đẳng với nhau và đều được sáng tạo theo hình ảnh của Thiên Chúa.


Nguồn gốc của Hôn nhân

Công đồng Vaticano II qua Hiến chế Mục vụ của Giáo hội trong thế giới ngày nay đã xác định: “Đấng Tạo Hóa đã thiết lập và ban những định luật riêng cho đời sống chung thân mật và cho cộng đoàn tình yêu vợ chồng. Đời sống chung thủy này được gầy dựng do giao ước hôn nhân, nghĩa là sự ưng thuận cá nhân không thể rút lại. Như thế, bởi một hành vi nhân linh, trong đó, hai vợ chồng tự hiến cho nhau và đón nhận nhau, nhờ sự an bài của Thiên Chúa, phát sinh một định chế vững chắc có giá trị trước mặt xã hội nữa. Vì lợi ích của lứa đôi, của con cái và của xã hội, nên sợi dây liên kết thánh thiện này không lệ thuộc sở thích của con người. Chính Thiên Chúa là Đấng Tác Tạo Hôn Nhân, phú bẩm những lợi ích và mục tiêu khác nhau (GS 48); Thông điệp Humanae Vitae của Đức Giáo Hoàng Phaolo VI xác nhận: “Hôn nhân không phải do ngẫu nhiên hay do sự biến hóa của các sức mạnh vô tri trong thiên nhiên tạo thành. Hôn nhân là do một sự sắp đặt khôn ngoan của Đấng Tạo Hóa để thực hiện ý định yêu thương của Ngài giữa nhân loại”

Công đồng Vaticano II qua Hiến chế Mục vụ của Giáo hội trong thế giới ngày nay đã xác định: “Đấng Tạo Hóa đã thiết lập và ban những định luật riêng cho đời sống chung thân mật và cho cộng đoàn tình yêu vợ chồng. Đời sống chung thủy này được gầy dựng do giao ước hôn nhân, nghĩa là sự ưng thuận cá nhân không thể rút lại. Như thế, bởi một hành vi nhân linh, trong đó, hai vợ chồng tự hiến cho nhau và đón nhận nhau, nhờ sự an bài của Thiên Chúa, phát sinh một định chế vững chắc có giá trị trước mặt xã hội nữa. Vì lợi ích của lứa đôi, của con cái và của xã hội, nên sợi dây liên kết thánh thiện này không lệ thuộc sở thích của con người. Chính Thiên Chúa là Đấng Tác Tạo Hôn Nhân, phú bẩm những lợi ích và mục tiêu khác nhau (GS 48); Thông điệp Humanae Vitae của Đức Giáo Hoàng Phaolo VI xác nhận: “Hôn nhân không phải do ngẫu nhiên hay do sự biến hóa của các sức mạnh vô tri trong thiên nhiên tạo thành. Hôn nhân là do một sự sắp đặt khôn ngoan của Đấng Tạo Hóa để thực hiện ý định yêu thương của Ngài giữa nhân loại”

Mục đích của Hôn nhân

Theo Humanae Vitae 8: “Trong hôn nhân, vợ chồng dâng hiến thân xác cho nhau bằng một cử chỉ đặc biệt và giới hạn giữa hai người, để kết hợp với nhau nên một, với mục đích giúp nhau phát triển con người và cộng tác với Thiên Chúa để sinh sản và giáo dục những sự sống mới” “Sự liên kết mật thiết vẫn là sự tự hiến của hai người cho nhau cũng như lợi ích của con cái buộc hai vợ chồng phải hoàn toàn trung tín và đòi hỏi kết hợp với nhau bất khả phân ly” (GS 48). Từ đó, chúng ta có thể thấy Hôn nhân theo Giáo hội gồm có hai mục đích Gl 1055 §1: a. giao ước hôn nhân tự bản chất, hướng về thiện ích của đôi bạn; b. sinh sản và giáo dục con cái.

Theo Humanae Vitae 8: “Trong hôn nhân, vợ chồng dâng hiến thân xác cho nhau bằng một cử chỉ đặc biệt và giới hạn giữa hai người, để kết hợp với nhau nên một, với mục đích giúp nhau phát triển con người và cộng tác với Thiên Chúa để sinh sản và giáo dục những sự sống mới” “Sự liên kết mật thiết vẫn là sự tự hiến của hai người cho nhau cũng như lợi ích của con cái buộc hai vợ chồng phải hoàn toàn trung tín và đòi hỏi kết hợp với nhau bất khả phân ly” (GS 48). Từ đó, chúng ta có thể thấy Hôn nhân theo Giáo hội gồm có hai mục đích Gl 1055 §1: a. giao ước hôn nhân tự bản chất, hướng về thiện ích của đôi bạn; b. sinh sản và giáo dục con cái.

Theo Hiến chế Gaudium et Spes: Bởi giao ước hôn nhân, người nam và người nữ “không còn là hai, nhưng là một xương thịt” (Mt 19,6) phục vụ và giúp đỡ lẫn nhau bằng sự kết hợp mật thiết trong con người và hành động của họ, cảm nghiệm và hiểu được sự hiệp nhất với nhau mỗi ngày đầy đủ hơn. Hôn nhân hết sức quan trọng đối với “sự tiếp nối nhân loại, sự phát triển cá nhân, sự phát triển phần rỗi đời đời cho mỗi thành phần trong gia đình. Phát triển đối với phẩm giá, sự vững trãi, an bình và thịnh vượng của chính mình và xã hội”, hôn nhân giúp con người phát triển bản thân, phát triển gia đình và xã hội, vươn đến hạnh phúc toàn diện của con người.

Hôn nhân Công Giáo là Bí Tích

Trong Giáo huấn của Giáo hội qua văn kiện của Công đồng Vaticano II trong Hiến chế Gaudium et Spes : “Chúa Kitô ban dồi dào ơn phúc cho tình yêu muôn hình ấy, một tình yêu phát xuất từ nguồn mạch tình yêu Thiên Chúa và được tác thành theo gương của Chúa Kitô và Giáo Hội. Thực vậy, như xưa kia Thiên Chúa đến gặp gỡ dân Ngài bằng một giao ước yêu thương và trung thành, ngày nay Đấng Cứu Thế, Bạn Trăm Năm của Giáo Hội, cũng đến với đôi vợ chồng qua Bí Tích Hôn Phối. Người còn ở lại với họ để hai vợ chồng cũng mãi mãi trung thành yêu thương nhau bằng sự tự hiến cho nhau như Người đã yêu thương Giáo hội và đã nộp mình vì Giáo hội…Bởi đó, vợ chồng Kitô hữu được củng cố và như được thánh hiến bằng một bí tích riêng để được lãnh nhận các bổn phận và phẩm giá của bậc sống họ. Nhờ sức mạnh của bí tích này, họ được thấm nhuần tinh thần Chúa Kitô để chu toàn bổn phận hôn nhân và gia đình họ, nhờ đó tất cả đời sống của họ được thấm nhuần đức tin, cậy, mến và càng ngày họ càng tiến gần hơn tới sự trọn lành riêng biệt của họ và sự thánh hóa lẫn nhau: và bởi đấy, cùng nhau tôn vinh Thiên Chúa”(GS 48). Giáo luật điều 1055 §2 đã xác nhận: Chúa Kitô đã nâng giao ước hôn nhân giữa hai người đã được Rửa tội lên hàng Bí tích.

Chúng ta vừa tìm hiểu sơ lược về Hôn nhân dưới ánh sáng Tin Mừng và Giáo Huấn của Giáo Hội Công Giáo. Hội Thánh ngày nay có những qui định Giáo luật liên quan tới hôn nhân bao gồm 2 loại:

– Loại 1: Những điều không thể thay đổi vì là Luật của Thiên Chúa (Luật Mạc Khải hay Tự nhiên);
– Loại 2: Những qui định có thể thay đổi vì căn cứ theo hoàn cảnh xã hội dân sự hay văn hóa và những hướng dẫn mục vụ cần thiết cho sinh hoạt của cộng đoàn.

Bộ Giáo Luật 1983 của Giáo Hội Latinh đã nêu ra những qui định về loại 1 “Luật của Thiên Chúa (Tự nhiên)”, và một số hướng dẫn cho qui định về loại 2 cho Giáo hội địa phương. Chúng ta nhận thấy những qui định Giáo luật và Mục vụ đều qui về Ba điều kiện chính để việc kết hôn được tiến hành tốt đẹp:

1. Xác định đôi bạn có khả năng kết hôn và không có ngăn trở
2. Đôi bạn hoàn toàn tự do và tự nguyện.
3. Cử hành kết hôn theo thể thức Phụng vụ và Giáo luật qui định. 

Những qui định về cử hành Hôn nhân của mỗi Giáo phận đều có nguồn gốc từ Giáo luật, từ dân luật hiện hành và từ tình hình hoàn cảnh riêng của mỗi giáo phận. Đức Giám mục Giáo phận có trách nhiệm qui định các thủ tục cử hành hôn nhân, năng quyền chứng hôn cho các linh mục. Ngài cũng có quyền ra luật và miễn chuẩn nhiều qui định giáo luật trong Giáo phận của mình.



Share:

Mùa Xuân, Những Điều Nhất Định Không Nên Làm!


Lời Cổ Nhân Dạy
Người xưa có câu:
“Khuyên người chớ ăn cá diếc tháng Ba,
Vạn ngàn cá con đang trong bụng mẹ.
Khuyên người chớ săn chim xuân,
Chim non trong tổ đợi mẹ về.
Khuyên người chớ ăn ếch mùa xuân,
Trăm ngàn sinh mệnh còn trong bụng.”


“Khuyên người chớ săn chim xuân, chim non trong tổ đợi mẹ về.” – Mùa xuân không được săn bắn chim, vì chim non còn đang chờ mẹ về mớm mồi. Nếu chim mẹ bị giết, chim con sẽ chết đói trong tổ, vô cùng thảm thương. “Khuyên người chớ ăn ếch mùa xuân, trăm ngàn sinh mệnh còn trong bụng” và “Khuyên người chớ ăn cá diếc tháng Ba, vạn ngàn cá con đang trong bụng mẹ” cũng mang ý nghĩa tương tự. Mùa xuân là thời điểm sinh sôi, nếu giết một sinh mệnh tức là giết đi hàng ngàn, hàng vạn sinh mệnh.
Mùa xuân, sinh mà không sát, ban mà không đoạt, thưởng mà không phạt.
Nguyên lý “Thiên nhân hợp nhất” trong văn hóa Việt Nam có liên hệ mật thiết với quy luật tự nhiên. Yêu thương trời đất, hành thiện giữa nhân gian; tình yêu thương là sự bảo hộ từ bi, là lòng bố thí vô lượng.
Quan Niệm Vạn Vật Bình Đẳng Trong Đạo Gia
Trong các học thuyết thời Tiên Tần, chỉ riêng Đạo gia có quan điểm khác biệt. Dựa trên tư tưởng “Đạo” của Lão Tử, “Đại Đạo” đối đãi vạn vật một cách công bằng. Đạo gia cũng cho rằng, con người chỉ là một phần bình thường của vạn vật, không hề cao quý hơn vạn vật khác. Do đó, con người không phải trung tâm của trời đất, mà giữa người và vạn vật đều bình đẳng. Quan niệm này đối lập với tư tưởng của Nho gia, vốn cho rằng con người cao quý hơn muôn loài. Đây là sự khác biệt lớn giữa Nho và Đạo trong việc định vị con người giữa trời đất, phản ánh hai thái độ khác nhau của triết học cổ đại đối với mối quan hệ giữa con người và tự nhiên.
Lão Tử tuy ít bàn trực tiếp về cách con người nên đối đãi với vạn vật, nhưng từ nguyên lý “Đạo pháp tự nhiên”, có thể thấy rõ rằng vạn vật trước “Đại Đạo” đều bình đẳng, con người không hề vượt trội hơn vạn vật. Quan điểm này được kế thừa và phát triển trong tư tưởng của Trang Tử:
“Lấy Đạo mà nhìn thì vạn vật không có cao thấp quý tiện.”
Đạo gia cho rằng sinh mệnh con người đến từ tự nhiên, con người là một phần của sự sống trong tự nhiên, nên cần sống hòa hợp với tự nhiên, duy trì sự cân bằng và an bình của toàn bộ thế giới tự nhiên. Đạo gia khuyên răn con người tuân theo quy luật tự nhiên, bảo vệ môi trường, tiết kiệm tài nguyên, duy trì cân bằng sinh thái, vì đó là nền tảng thiết yếu cho sự tồn tại và phát triển bền vững của nhân loại.
Theo Đạo gia:
“Mọi sinh linh hữu tình, dù là súc vật, cây cối hay đá sỏi, đều có Đạo tính.”
Mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên là sự hòa hợp mật thiết, vạn vật đều do Đạo sinh hóa biến đổi mà thành, không hề có sự phân biệt cao thấp quý tiện. Chỉ khi con người thuận theo tự nhiên thì vạn vật mới có thể cùng sinh cùng vinh, thế giới mới có thể phát triển hài hòa.
Trong Trang Tử, có câu:
“Lấy Đạo mà nhìn, vạn vật không có cao thấp.
Lấy vật mà nhìn, mỗi vật đều tự cho mình là quý, còn vật khác là tiện.”
Kinh điển Đạo gia như Tây Thăng Kinh dạy rằng:
“Đạo không chỉ thuộc về riêng ta, vạn vật đều có Đạo.”
Đạo sĩ Thành Huyền Anh thời Đường nói:
“Đại Đạo tự nhiên, tạo vật đều bình đẳng.”
Thái Bình Kinh viết:
“Trời đất và ta cùng một cội rễ, vạn vật và ta cùng một thể.”
Đạo gia còn cho rằng, vì nhất nguyên khí của vũ trụ tồn tại trong mọi sự vận hành của tự nhiên, nên vạn vật cũng có linh tính như con người. Tổ sư Cát Hồng từng nói:
“Núi sông, cây cỏ, giếng nước, bếp lò đều có tinh khí. Con người có hồn phách, huống hồ là vạn vật to lớn trong trời đất, lẽ nào lại không có linh khí?”
Điều này cũng giống như lời kinh Đạo giáo:
“Khí có tất có tinh, tinh cực tất có linh, linh cực tất có thần.”
Bảo Vệ Tự Nhiên - Triết Lý Tu Đạo Của Đạo Gia
Từ xa xưa, Đạo gia luôn đề xướng lối sống “phản phác” (trở về sự giản dị nguyên sơ), “kiệm ước”, xem đó là cách bảo vệ môi trường và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên. Đối với người tu hành, Đạo gia càng nhấn mạnh việc hòa hợp với tự nhiên, không được tổn hại hay làm xáo trộn sinh linh trong thiên nhiên.
Lão Tử - vị tổ sư của Đạo gia, từng nói:
“Vạn vật quy về mà không làm chủ.” (Đạo Đức Kinh - chương 34)
Trang Tử cũng viết:
“Trời đất và ta cùng sinh, vạn vật và ta là một.” (Tề Vật Luận)
“Cùng vạn vật hợp thành một thể.” (Tiêu Dao Du)
“Thời đại đạo đức chân chính, con người cùng chung sống với muông thú, vạn vật cùng tồn tại.” (Mã Đề)
Kinh điển Đạo giáo như Thái Bình Kinh đề xướng tư tưởng:
“Trời đất hài hòa đồng tâm, cùng sinh dưỡng vạn vật.”
Tổ sư Cát Hồng cũng nhấn mạnh ý thức bình đẳng của vạn vật. Theo Đạo giáo, thông qua tu luyện, con người có thể đạt đến cảnh giới “trường sinh cửu thị” (sống lâu bền vững), thậm chí “nhục thể thành tiên” (thành tiên khi còn sống). Đây chính là cảnh giới hợp nhất với thiên nhiên, đạt đến sự hòa hợp tuyệt đối với vạn vật.
Trong Đạo giáo, “Từ” (lòng từ bi) đứng đầu trong Tam Bảo (Ba bảo vật quý giá trong Đạo Đức Kinh). Thái Thượng Lão Quân cho rằng:
“Trời muốn cứu vạn vật, dùng lòng từ bi để bảo hộ.”
Kinh điển Đạo giáo như Thái Thượng Động Chân Trí Tuệ Thượng Phẩm Đại Giới dạy rằng:
“Thường hành từ tâm, cứu độ muôn loài, phóng sinh giải nạn.”
Văn Độ Nhân Kinh viết:
“Đồng lòng từ ái, dù khác cốt cũng như ruột thịt; nước an dân giàu, thái bình vui vẻ.”
Đạo gia từ xưa đến nay luôn đề cao lòng nhân ái, phản đối việc sát sinh bừa bãi, xem đó là một phần trong sự tu dưỡng bản thân. Đạo giáo chủ trương vạn vật bình đẳng, chung sống hài hòa, cùng phát triển, vì con người cũng chỉ là một phần của vũ trụ, không có sự phân biệt cao thấp.
Phúc Sinh Vô Lượng Thiên Tôn!
Share:

Tìm hiểu về giáo lý, luật lệ, lễ nghi của đạo Cao Đài

 Đạo Cao Đài là một tôn giáo nội sinh, xuất hiện năm 1926 ở Nam Bộ, tín đồ chủ yếu là nông dân; sự ra đời của đạo Cao Đài là một tất yếu khách quan nó phản ánh thực trạng xã hội lúc bấy giờ, và sự bế tắc về tư tưởng, sự suy thoái của các tôn giáo, đạo lý đương thời.



Tín đồ đạo Cao Đài dự lễ. Nguồn Internet
Về giáo lý căn bản, đạo Cao Đài cho rằng vũ trụ là vô cùng vô tận bao gồm cả không gian và thời gian. Không gian là vô cực trong đó có Âm và Dương, dần dần ngưng kết với nhau hình thành Thái cực. Thái cực chính là Ngôi Chúa Tể của càn khôn vũ trụ. Thái cực biến hóa vô cùng, vô tận sinh hóa ra muôn loài, muôn vật. Đạo Cao Đài thờ Thượng đế bằng hình con mắt trái – Thiên nhãn có nghĩa là “mắt trời” là thần lực của vũ trụ, nhìn thấu suốt thế gian.
Đạo Cao Đài cho rằng con người là tiểu vũ trụ. Con người có phần hồn và phần xác, Thượng đế ban cho mỗi người một linh hồn (gọi là Điểm Linh quang) mượn lấy xác phàm để xuống thế gian rèn luyện, thử thách. Đạo Cao Đài quan niệm thế gian là một trường học và là nơi lập công bồi đức, để không ngừng tiến hóa. Cuộc sống của con người là quá trình hoàn thành những nấc thang tiến hóa cao nhất của vạn vật nhằm đi đến sự hòa hợp với vũ trụ.
Khi con người chết đi thì linh hồn vẫn tồn tại và tiếp tục luân hồi để sống vào kiếp khác, con người tiến hóa là do linh hồn tiến hóa. Vì vậy nếu tu luyện tốt, có nhiều công đức tại thế sẽ được về cõi Bạch Ngọc kinh (Thiên đàng), nếu có nhiều tội lỗi thì vướng mãi trong kiếp luân hồi sinh tử. Tuy vậy, đạo Cao Đài đưa ra khái niệm đại ân xá Kỳ ba nghĩa là người có tâm cầu đạo dù chưa đắc quả tại thế, sau khi chết sẽ được ân xá tiếp tục tu luyện ở cõi vô hình cho đến khi đắc vị, khỏi luân hồi.
Tôn chỉ của đạo Cao Đài là: “Tam giáo quy nguyên, Ngũ chi hiệp nhất” nhằm mục đích phục hưng chân truyền, đây là đường lối căn bản cho nhân sinh tu hành.
Tam giáo quy nguyên là thực hiện tôn chỉ của ba tôn giáo lớn (Phật, Nho, Lão) là Từ bi – Công bằng – Bác ái.
Ngũ chi hiệp nhất là thống nhất 5 ngành đạo (nhân đạo của Khổng tử, Thần đạo của Khương Tử Nha, Thánh đạo của Jesu, Tiên đạo của Lão Tử, Phật đạo của Thích Ca) thể hiện năm trình độ chuyển hóa, tu tiến để đi đến giải thoát một cách toàn diện.
Đạo Cao Đài cho rằng từ khi có loài người, Thượng đế đã ba lần cứu rỗi: lần thứ nhất vào thời thượng cổ do các đấng Phục Hi, Moi – sen làm giáo chủ; lần thứ hai do các đấng Thích ca, Lão Tử, Khổng Tử, Giê - su- Ki – tô, Mô - ha – mét làm giáo chủ; lần thứ ba do đức Thượng đế lập ra và trực tiếp làm giáo chủ trên tinh thần “tam giáo quy nguyên”, “vạn giáo nhất lí”, và hiệp nhất Ngũ chi.
Giáo lý của đạo Cao Đài đề cao tính thiêng liêng, sự huyền diệu của cơ bút, coi đó là phương tiện để con người liên hệ với Thượng đế.
Về luật lệ, lễ nghi, đạo Cao Đài thực hiện theo Ngũ giới cấm và Tứ đại điều quy.
Ngũ giới cấm là không sát hại sinh vật; không trộm cắp, lừa gạt người; cấm tà dâm; cấm uống rượu thịt, ăn uống quá độ; cấm xảo trá, nói năng không giữ lời hứa.
Tứ đại điều quy là tuân theo lời dạy của bề trên, lấy lễ hòa người; chớ khoe tài, đừng cao ngạo; tiền bạc phân minh; trước mặt sau lưng cũng đồng một bực.
Đạo phục chức sắc Cửu Trùng đài: từ phẩm giáo tông, chưởng pháp, đầu sư, phối sư, giáo sư gồm 2 bộ đại phục và tiểu phục. Đại phục mặc vào những ngày đại lễ, có màu sắc theo phái (Thái màu vàng - Thượng màu xanh - Ngọc màu đỏ), đầu đội mũ bát quái tùy theo phẩm trật. Tiểu phục cũng may như đại phục nhưng đầu nhưng đầu đội khăn đóng có 9 lớp.
Về đạo phục nữ phái mặc áo trắng và đội mũ theo phẩm trật.
Lễ nghi đạo Cao Đài khá cầu kì, phức tạp thể hiện tinh thần tam giáo đồng nguyên. Kinh của đạo Cao Đài đọc theo giọng nam ai, nam xuân và có Ban nhạc lễ.
Người tu theo đạo Cao Đài chia thành 3 bậc thực hiện việc giữ giới khác nhau: Hạ thừa, Trung thừa, Thượng thừa.
Hạ thừa là những người (thường là tín đồ) tu tại gia, tuân thủ Ngũ giới cấm, Tứ đại điều quy, Thế luật của đạo, ăn chay lục trai hoặc thập trai.
Trung thừa là những người (thường là phẩm lễ sanh) tuân thủ như bậc hạ thừa nhưng vừa duy trì cuộc sống sinh hoạt gia đình (tại gia) vừa xuất gia tu học tại các Thánh thất hoặc trung tâm Tòa thánh, ăn chay từ 15 ngày trở lên (nửa tại gia, nửa xuất gia).
Thượng thừa là những người (thường là chức sắc từ phẩm giáo hữu trở lên) thực hiện “cắt ái ly gia” hiến thân trọn đời cho đạo, ăn chay trường, luyện đạo, tu hành tại các thánh thất và Tòa thánh.
Đạo Cao Đài có một số ngày đại lễ trong năm theo âm lịch như ngày 09 tháng Giêng lễ vía Đức Chí Tôn, ngày 15/8 lễ vía Diêu Trì Kim Mẫu, ngày 15/10 lễ kỷ niệm khai đạo,… từng hệ phái có ngày lễ kỷ niệm riêng. Hàng ngày có 4 khóa lễ vào các giờ: Tý, Ngọ, Mão, Dậu.
Share:

Đạo Giáo Bát Đại Thần Chú

 Bát Đại Thần Chú là bộ thần chú thường dùng tụng hằng ngày trong nghi lễ của chư Đạo sĩ của Đạo giáo, có tác dụng gột rửa tiêu trừ các tội nghiệt trong thân - tâm, hộ vệ tâm thần, triệu thỉnh Thần minh hộ trì, hoặc khi khai kinh diễn thuyết Đại đạo thời trì tụng, chánh là hạch tâm thần chú, là những thần chú cơ bổn của người sơ tu đạo phải học, tựa như khai đàng công phu của Phật giáo. Bát Đại Thần Chú gồm:


1. Tịnh Tâm Thần Chú:
"Thái Thượng Đài Tinh, ứng biến vô đình,
Khu tà phược mị, bảo mệnh hộ thân,
Trí huệ minh tịnh, tâm thần an ninh,
Tam hồn vĩnh cửu, phách vô táng khuynh."

Tác dụng: Tịnh Tâm Thần Chú là thần chú đứng đầu trong Bát Thần, ý ngỡi của nó là giúp cho người tu đạo học tập hoặc trong lúc tôi luyện phù pháp được tịnh hóa thể xác và tinh thần, bài trừ tạp niệm, yên ổn thân tâm lúc tu tập. Chú này giúp cho phàm tâm nhập thanh tịnh, không bị xáo động, giúp cho hồn phách được bửu đảm.

2. Tịnh Khẩu Thần Chú:
"Đơn Châu Khẩu Thần, thổ uế trừ phân.
Thiệt thần Chánh Luân, thông mệnh dưỡng thần,
La Thiên Xỉ thần, khước tà vệ chân.
Hầu thần Hổ Bí, khí thần dẫn tân.
Tâm thần Đơn Ngươn, lệnh ngã thông chân.
Tư thần luyện dịch, đạo khí thường tồn."

Tác dụng: Tịnh Khẩu Thần Chú chứa hai tầng chơn ý. Thứ nhứt là: Nhơn sinh nếu lún quá sâu vào thế tục, khó tránh khỏi báng kinh hủy đạo, miệng lưỡi trần tục, thường hay nói xấu người khác. Cũng có thế nhơn không tin quỷ thần, chửi trời mắng đất, miệng lưỡi tanh tưởi. Này đều là "khẩu nghiệp".
Thứ hai là: Ở trần tục, tam huân ngũ tinh khó tránh khỏi tị húy. Khẩu khí tanh đàn mùi thối. Tụng kinh luận pháp, ô uế Tam Bữu. Cho nên phải thường tụng niệm Tịnh Khẩu Thần Chú giúp tiêu trừ khẩu nghiệp, khẩn mời Chánh Thần giúp gột sạch uế khí trong miệng. Thanh tịnh miệng lưỡi có thể tụng kinh niệm chú, thông chơn đạt đạo.

3. Tịnh Thân Thần Chú:
"Linh Bảo Thiên Tôn, an ủy thân hình,
Đệ tử hồn phách, ngũ tạng huyền minh,
Thanh Long Bạch Hổ, đội trượng phân vân,
Châu Tước Huyền Võ, thị vệ ngã chơn."

Tác dụng: Tịnh Thân Thần Chú có thể luyện hóa cơ thể hành giả thể nạp tứ chánh chi thần, quay về chánh vị. Tiêu trừ thân nghiệp, ủng hộ thân hình, bảo vệ đạo thể. Thân nghiệp, chánh là các nghiệp sát sanh, trộm cắp, dâm tà,...chư đẳng tội. Làm cho thân thể hành giả tu đạo được thanh tịnh, thân thể thanh tịnh thời mới có thể cảm chiếu với thần linh.

4. An Thổ Địa Thần Chú:
"Nguyên Thủy an trấn, phổ cáo vạn linh.
Nhạc độc chơn quan, Thổ Địa chi linh.
Tả xã hữu tắc, bất đắc vong kinh.
Hồi hướng chánh đạo, nội ngoại trừng thanh.
Các an phương vị, bị thủ đàn đình.
Thái Thượng hữu mệnh, sảo bộ tà tinh.
Hộ Pháp Thần Vương, bảo vệ tụng kinh.
Quy y đại đạo, nguyên hanh lợi trinh."

Tác dụng: Chú này giúp cho khi kết đàn hành pháp, chiêu khiển Thổ Địa Sơn Thần, bởi vì giúp cho hành giả tấu cáo thượng thiên, bảo vệ chánh đạo thời sử dụng.

5. Kim Quang Thần Chú:
"Thiên Địa huyền tôn, vạn khí bổn căn.
Quảng tu ức kiếp, chứng ngô thần thông.
Tam giới nội ngoại, duy đạo độc tôn.
Thể hữu kim quang, phước yếng ngô thân.
Thị chi bất kiến, thính chi bất văn.
Bao la Thiên Địa, dưỡng dục quần sanh.
Thọ trì vạn biến, thân hữu quang minh.
Tam giới thị vệ, Ngũ Đế ti nghinh.
Vạn thần trào lễ, dịch sứ Lôi Đình.
Quỷ yêu táng đởm, tinh quái vong hình.
Nội hữu phích lịch, Lôi Thần ẩn danh.
Động huệ giao triệt, ngũ khí đằng đằng.
Kim Quang tốc hiện, phước hộ chơn nhơn."

Tác dụng: Kim Quang Thần Chú sử dụng tu luyện đạo thể chi tâm tánh vị chủ, chủ trương luyện nội thân Kim Quang Nguyên Thần để hộ thể, hàng phục ma quỷ, bảo vệ đạo pháp. Thần chú này, như con đường rộng rãi lênh đênh, uy lực cường đại. Là thần chú bí mật của đạo môn, phương pháp tu luyện xưa nay âm tàng bất lộ không truyền cho người ngoài. Các môn phái dùng để tu trì tế luyện các pháp, bất tận tương đồng. Dân gian đạo phái cũng có rất nhiều pháp bí mật liên quan đến chú này, hoặc sử dụng chú này để tế luyện Kim Quang làm phù lệnh. Hoặc dùng uy lực Kim Quang, nội luyện thành kim đơn, hoặc ngộ đạo tu chơn, Lôi Thần hộ vệ, hoặc gia trì pháp bửu, độn địa thâu thiên.

6. Tịnh Thiên Địa Thần Chú:
"Thiên Địa tự nhiên, uế khí phân tán.
Động trung huyền hư, huỳnh lãng Thái Nguyên.
Bát phương oai thần, sứ ngã tự nhiên.
Linh Bửu phù mệnh, phổ cáo Cửu Thiên.
Kiền la đáp na, động cương Thái Huyền.
Trảm yêu phược tà, độ nhơn (sát quỷ) vạn thiên.
Trung sơn thần chú, Nguyên Thủy ngọc văn.
Trì tụng nhất biến, khước bệnh diên niên.
Án hành Ngũ Nhạc, Bát Hải tri văn.
Ma Vương thúc thủ, thị vệ ngã hiên.
Hung uế tiêu tán, đạo khí thường tồn."

Tác dụng: Tịnh hóa từ trường, dứt ngừng bệnh tật lâu năm, buộc kết đạo dươn.

7. Chúc Hương Chú:
"Đạo do tâm học, tâm giả hương truyền.
Hương phần ngọc lô, tâm tồn đế tiền.
Chơn linh hạ phán, tiên bái lâm hiên.
Lệnh thần quan cáo, kính đạt Cửu Thiên."

Tác dụng: Thông thần

8. Huyền Uẩn Chú:
"Vân triện thái hư, hạo kiếp chi sơ.
Tác hà tác nhĩ, hoặc trầm hoặc phù.
Ngũ phương bồi hồi, nhứt trượng chi dư.
Thiên chơn huỳnh nhơn, án bút nãi thơ.
Dĩ diễn đồng chương, thứ thơ linh phù.
Nguyên Thủy hạ giáng, chơn văn đản phu.
Chiêu chiêu kỳ hữu, minh minh kỳ vô.
Trầm kha năng tự thuyên, trần lao nịch khả phù.
U minh tướng hữu lợi, do thị thăng tiên đô."

Tác dụng: Này thần chú, còn được gọi là "Khai Đàn Huyền Uẩn Chú", khi chuẩn bị khai đàn kinh thời phụng tụng chú này. "Huyền Uẩn", ý là chỉ trong kinh thơ tạng chứa huyền diệu thậm thâm nghĩa lý. Trong thời kinh tảo khóa của Linh Bửu phái có chú này, sau các tôn phái khác mới có sự tiếp thu phỏng theo, tuy nhiên có vài bổn thay đổi cả về ngôn từ lẫn ý nghĩa.

Phúc Sanh Vô Lượng Thiên Tôn!

Share:
Main Ad ➤ Click "VÀO ĐÂY" Doanh nhân và Thương hiệu ASEAN luôn cập nhật

Quốc Gia Truy Cập

Flag Counter

Bài đăng nổi bật

Cách đưa Webite lên Index

  Để đưa một website lên Google Index (xuất hiện trên kết quả tìm kiếm), bạn cần thực hiện theo quy trình chuẩn gồm 4 bước chính sau đây. 1....

Bài mới đăng

Flag Counter

Lưu trữ Bài viết

Tổng số lượt xem trang

Ủng Hộ Chúng Tôi

Liên hệ Nhà thơ Hoàng Huy

Tên

Email *

Thông báo *

Cho Đặt Banner Quảng cáo

Like Fanpage Phong Thủy để cập nhật các thủ thuật mới nhất mỗi ngày OK Để sau