Luật Gia. Liz Quiehui có tên thật là Hoàng Quốc Huy, tên phiên âm là Lý Thu Tuệ

Blog

Main Ad ➤ Click "VÀO ĐÂY" Doanh nhân và Thương hiệu ASEAN luôn cập nhật

NHỮNG GIỚI LUẬT CỦA TU HÀNH MẬT TÔNG KIM CƯƠNG THỪA VÀ GIỚI LUẬT RIÊNG CỦA ĐẠI VIÊN MÃN (PHẦN III)

 

KẾT LUẬN VỀ GIỚI LUẬT CỦA TU HÀNH MẬT TÔNG KIM CƯƠNG THỪA VÀ GIỚI LUẬT RIÊNG CỦA ĐẠI VIÊN MÃN

 

 

Ngài Guru Menla

 

Ngài Panchen Pema Wangyal tóm tắt các giới luật Mật Tông Kim Cương Thừa trong những dòng sau.

Tóm lại, nếu nhận ra chính thân bạn (tức là thân, khẩu, và ý) như ba cửa Vajra (thân, khẩu, và ý của Bổn tôn).

Thì sự tuân thủ hàng trăm ngàn triệu giới luật Mật Tông Kim Cương Thừa đều bao gồm trong nhận biết này.

Có nhiều phạm trù giới luật khác nhau. Những gì tôi đưa ra ở đây chỉ là các giới luật chính nói riêng về Tantra (Mật Tông) và Dzogpa Chenpo (Đại Viên Mãn). Nếu bạn học tập các Tantra khác nhau, thì mỗi Tantra đều có hệ thống giới luật riêng. Nhưng trong bản chất, nếu bạn có và duy trì nhận thức thanh tịnh, thì mọi giới luật Mật Tông Kim Cương Thừa đều được bao gồm trong nó. Thấy mọi hiện tượng như thân Phật, nhận thấy mọi lời nói như Mantra, ngữ thanh tịnh của đức Phật, và nhận ra tâm như tâm giác ngộ của đức Phật là nhận thức thanh tịnh. Nhưng có thể điều này quá thâm sâu với chúng ta. Chỉ có tư tưởng tôn kính đến bất kỳ hiện tượng nào, bất cứ những gì ở trước chúng ta, là nhận thức thanh tịnh. Có loại nhận thức thanh tịnh đó, có một tâm tích cực, bản chất tôn kính và lòng bi gói gọn những giới luật Mật Tông Kim Cương Thừa.

Vào cuối sự thực hiện quán đảnh Longchen Nyingthig, Ngài Kyabje Dodrupchen Rinpoche ban cho chúng ta tinh túy của giới luật để gìn giữ. Ngài nói, “Có nhiều giới luật như mười bốn vi phạm gốc, mà điều quan trọng và cũng dễ thực hiện cho bạn có mối tương quan tốt giữa đệ tử và vị thầy, và mối tương quan tốt giữa chính bạn và người chung quanh, người thân cận bạn. Nếu bạn nổi giận thì đừng biểu lộ. Nếu có người bị bệnh hay trong bất cứ khó khăn nào, hãy cố gắng giúp họ.”

Đây là một cách thiết thực và phổ biến về việc thấy, ứng xử với, và sống bằng giới luật, và nó là giới luật của Tantra. Năm ngoái, khi chúng ta tụ tập vào cuối tuần để thiền định về lòng bi, phần lớn mọi người đều thích và được lợi ích bởi điều này. Nhưng có một số người suy nghĩ rằng lòng bi không phải là Dzogpa Chenpo và điều đó không đủ “cao”, và đó là cảm xúc hoặc không phải cách thực hành truyền thống của Phật giáo Tây Tạng. Loại thiền giả khoa trương ấy cho thấy rằng sự khoan dung của chúng ta sẽ rơi xuống mức thấp như thế nào mặc dù cũng hướng về lòng bi và tụng niệm danh hiệu Đức Avalokiteshvara. Không có dấu vết đại rộng mở của cái thấy Dzogpa Chenpo. Vấn đề là chúng ta không nhìn vào chính mình, chúng ta không thấy mình đứng ở đâu và tình thế của chúng ta là gì. Sống tôn kính là nhận thức thanh tịnh, và lòng bi là sự rộng mở hay tiến trình mở rộng. Sống tôn kính và bi mẫn hướng đến mọi người hay sự vật chung quanh bạn, với người mà bạn cư xử bằng hơi thở và bằng xương bằng thịt, là đặt việc rèn luyện tâm linh vào thực hành cuộc sống thật sự.

Hãy nghĩ về thái độ hay cảm nhận chúng ta có với từng cá nhân. Chúng ta thường cảm thấy: “Tôi tốt hơn vì có nhiều tiền hơn, vị trí cao hơn, đẹp trai hơn, xinh xắn hơn, v.v… Ông hay bà ta thấp hơn tôi.” Thì đó là kiêu mạn. Chúng ta có cảm thấy đau xót tức tưởi, và suy nghĩ: “Ông hay bà ta cao hơn tôi.” Đó là đố kỵ. Nhưng nếu chúng ta suy nghĩ: “Ông hay bà ấy thật hạnh phúc biết bao, tạo được tiến bộ nhiều hơn tôi. Tôi thật hạnh phúc cho họ.” Đó là tâm hoan hỷ. Nó là bằng chứng cho việc thực hành Giáo Pháp của chúng ta có tiến bộ. Nếu trong lúc vẫn giữ mọi cảm xúc tiêu cực trong lòng mà chúng ta lại nói về việc phục vụ toàn thể thế giới hay cho những người ở các châu lục xa xôi, thì người với ý thức đúng đắn có thể sẽ cười vào chúng ta. Nếu thực sự muốn giúp người khác thì trước hết phải bắt đầu với chính chúng ta và sau đó đến người chung quanh mình. Có thể bạn có tư tưởng rằng khi Rinpoche nói hãy kính trọng và tử tế với nhau, điều đó không phải là một giáo lý và không có bất cứ ý nghĩa mật truyền nào, chỉ là đạo đức xã hội. Nhưng nếu chúng ta có thể áp dụng thì nó có hầu hết ý nghĩa của mật truyền. Tử tế và giúp đỡ người khác tiêu biểu cho giới luật của Vinaya, sống kỷ luật về thân. Nó bao gồm giới luật Bồ tát vì có quan điểm lợi ích người khác. Tôn kính tiêu biểu cho giới luật mật tông, có nhận thức thanh tịnh. Do vậy, lòng tốt, giúp đỡ, và tôn kính người khác là tinh hoa của giới luật Mật Tông Kim Cương Thừa.

PHỤC HỒI GIỚI LUẬT BỊ ĐỨT

 

 

Ngài Kim Cương Tát Đỏa - Vajrasattva

 

Nếu chúng ta vi phạm bất cứ giới luật Mật Tông Kim Cương Thừa nào, thì phải làm gì? Chúng ta nên sửa đổi điều này qua thực hành tịnh hóa, như nghi thức Vajrasattva. Bất cứ loại thực hành Ngondro nào, thọ quy y, phát triển Bồ đề tâm, hay cúng dường Mandala sẽ được hùng mạnh trong việc tịnh hóa nghiệp tiêu cực; mà sự tụng niệm và thiền định của Vajrasattva là vô song và đặc biệt trong việc tịnh hóa những dấu vết nghiệp xấu và cảm xúc tiêu cực, giúp phục hồi và làm mạnh mẽ giới luật Mật Tông Kim Cương Thừa của chúng ta. Về việc thực hiện tịnh hóa đó, điều cần thiết là hoàn tất bốn năng lực (sTobs bZhi):

1. Năng lực hỗ trợ (rTen Gyi sTobs). Chúng ta cần ai đó, một lực giác ngộ, để dựa vào. Vì chúng ta có tâm nhị nguyên và đánh giá, để giúp chính mình chúng ta cần một số quyền năng cao hơn để dựa vào. Chúng ta phải tin tưởng vào năng lực hỗ trợ, trong trường hợp này là Đức Vajrasattva.

2. Năng lực hối tiếc (Sun ‘Byin Pa’i sTobs). Chúng ta nên công kích hành động xấu của mình với sự hối tiếc mạnh mẽ về những gì đã làm, giống như người phá hủy chất độc. Nếu không hối tiếc, chúng ta sẽ không muốn tẩy tịnh hành động xấu của chúng ta vì sẽ không cảm thấy có bất kỳ tiêu cực nào bên trong chúng ta. Với một số người, nếu giết một con côn trùng họ sẽ cảm thấy xấu. Với những người khác, ngay cả nếu họ giết nhiều người, có thể họ chỉ cảm thấy tự cao. Khả năng đảo ngược cuộc sống tiêu cực của chúng ta không dựa vào bất cứ những gì ta làm, mà vào cảm giác về việc làm của chúng ta ra sao. Do đó, việc hối tiếc là rất quan trọng trong sự thay đổi quan điểm và tiến trình của cuộc sống.

3. Năng lực cam kết (sDom Pa’i sTobs). Chúng ta nên lập một nguyện, một lời hứa, bằng bất cứ giá nào cũng không vi phạm lần nữa. Người ta thường nghĩ, “ Tôi không muốn lập bất kỳ loại cam kết nào vì làm cam kết là bắt đầu phá vỡ cam kết.” Nhưng nếu chúng ta không lập một cam kết, thì không có gì để phá vỡ. Kinh điển nói rằng lập một cam kết là điều quan trọng, vì một cam kết phát sinh một quyết tâm và năng lực mạnh mẽ không vi phạm hành động xấu lần nữa.

4. Năng lực giải độc (gNyen Po’i sTobs). Đây là năng lực của phương pháp làm tịnh hóa những bất tịnh. Trong trường hợp này, là sự thực hành hay sadhana (nghi quỹ) của Đức Vajrasattva, trong đó chúng ta tịnh hóa các dấu vết của nghiệp xấu, những thói quen của cảm xúc bất thiện, qua cam lồ ban phước của sự hợp nhất nam và nữ Phật Vajrasattva.

Sự hỗ trợ, hối hận, lời hứa, và sau đó là sự tịnh hóa thực tế – bốn phương diện này rất quan trọng. Nói chung, trong Vinaya, nếu bạn đứt giới, nếu vi phạm bất cứ bốn giới nguyện gốc nào, bạn sẽ không thể phục hồi chúng. Bồ tát giới có thể phục hồi qua năng lực của chính bạn và người khác. Trong tantra, giới luật có thể được phục hồi bằng sự thực hành chính bạn. Thế nên, những giới luật bị đứt có thể phục hồi, và chúng sẽ hồi phục bằng việc sử dụng bốn năng lực. Giới luật thanh tịnh và hoàn thiện, sự tương tục của trí tuệ và năng lực mật tông, là trọng tâm và phần chính của thực hành mật tông.

Trên đây chỉ là những gì tổng quát của Mật Giáo, tốt nhất là nhận giới luật từ một bậc Đạo Sư thanh tịnh khẩu truyền. Có những giới luật chúng ta không giữ được thì nên đảnh lễ ngài 3 lễ sau đó phát lộ nói rằng con không giữ được để không hủy phạm giới. Thật hổ thẹn cho ai tự nhận mình là một hành giả kim cương thừa mà không thủ trì giới luật giải thoát.

OM AH HUM BENZA GURU PADME SIDDHI HUM

Share:

NHỮNG GIỚI LUẬT CỦA TU HÀNH MẬT TÔNG KIM CƯƠNG THỪA VÀ GIỚI LUẬT RIÊNG CỦA ĐẠI VIÊN MÃN (PHẦN II)

 

NHỮNG GIỚI LUẬT KHÔNG PHỔ BIẾN CỦA DZOGPA CHENPO

Với những người đã được nhập môn vào thực hành của Dzogpa Chenpo, điều quan trọng là tuân theo những giới luật phổ biến và đặc biệt sau đây để duy trì và hoàn thiện sự thiền định và nhận biết của họ.



NHỮNG GIỚI LUẬT CHUNG CỦA DZOGPA CHENPO

Phạm trù phổ biến có hai mươi tám giới, được chia thành hai nhóm. Nhóm đầu tiên là hai mươi bảy giới về khía cạnh bên ngoài, bên trong, và bí mật của thân, khẩu, và ý của vị thầy gốc hay Lama. Toàn bộ pháp giới là một trong Mandala của vị Thầy Mật Tông Kim Cương Thừa. Mỗi khía cạnh bên ngoài, bên trong, và bí mật được phân chia thêm nữa thành những khía cạnh bên ngoài, bên trong, và bí mật nhỏ hơn. Giới cuối cùng thứ hai mươi tám, được thiết kế như sự thu thập của giới luật nhánh.

 

Tôn Tượng Mật Tông Kim Cương Thừa

Tôn Tượng Mật Tông Kim Cương Thừa

 

Trước tiên là hai mươi bảy giới luật gốc (rTsa lTung):

A. Những giới luật về Thân của vị Thầy Gốc

1. Bí mật của bên ngoài là kiềm chế việc giết hại.
2. Bên trong của bên ngoài là kiềm chế tà dâm.
3. Bên ngoài của bên ngoài là kiềm chế trộm cướp.
4. Bên ngoài của bên trong là kiềm chế sự khinh miệt cha mẹ, anh chị em họ.
5. Bên trong của bên trong là kiềm chế việc coi thường các biểu tượng của Giáo Pháp.
6. Bí mật của bên trong là kiềm chế việc xem nhẹ thân thể chính họ, vì đây là mandala của Bổn tôn.
7. Bí mật của bí mật là kiềm chế ngay cả việc dẫm lên bóng của vị Thầy.
8. Bên trong của bí mật là kiềm chế việc quấy rối vị phối ngẫu của vị Thầy hoặc của huynh đệ Vajra, thậm chí chỉ đùa giỡn.
9. Bên ngoài của bí mật là kiềm chế không đánh đập huynh đệ Vajra.

B. Những giới luật về Ngữ của vị Thầy Gốc

10. Bên ngoài của bên ngoài là kiềm chế nói dối.
11. Bên trong của bên ngoài là kiềm chế nói chia rẽ.
12. Bí mật của bên ngoài là là kiềm chế nói lời thô tục.
13. Bên ngoài của bên trong là kiềm chế việc thiếu tôn kính đến người giảng dạy Giáo Pháp.
14. Bên trong của bên trong là kiềm chế việc thiếu tôn kính đến người đang trầm tư về Giáo Pháp.
15. Bí mật của bên trong là kiềm chế việc thiếu tôn kính đến người đang thiền định về bản tánh tuyệt đối.
16. Bên trong của bí mật là kiềm chế việc chế nhạo phối ngẫu vị Thầy.
17. Bên ngoài của bí mật là kiềm chế việc chế diễu huynh đệ Vajra.
18. Bí mật của bí mật là kiềm chế việc nhạo báng vị Thầy.

C. Những giới luật về Ý của vị Thầy Gốc

19. Bên ngoài của bên ngoài là kiềm chế không tham lam.
20. Bên trong của bên ngoài là kiềm chế không ác ý.
21. Bí mật của bên ngoài là kiềm chế không tà kiến.
22. Bên ngoài của bên trong là kiềm chế không hoạt động đồi trụy.
23. Bên trong của bên trong là kiềm chế việc hôn trầm và trạo cử trong thiền định.
24. Bí mật của bên trong là kiềm chế khỏi quan điểm đồi trụy.
25. Bên ngoài của bí mật là kiềm chế không nghĩ tưởng về vị Thầy và phối ngẫu trong suốt cả ngày lẫn đêm.
26. Bên trong của bí mật là kiềm chế việc nghĩ tưởng về vị Bổn tôn của mình suốt cả ngày và đêm.
27. Bí mật của bí mật là kiềm chế việc suy nghĩ về kiến, thiền, hành suốt cả ngày và đêm.

Thứ hai là hai mươi lăm giới luật nhánh (Yan Lag):

A. Năm Giới Luật Trong Đó Hành Giả Mật Tông Kim Cương Thừa Nên Tận Dụng Phương Tiện Thiện Xảo Phi Thường

1. Sự loại bỏ [giải thoát] hay trừ tà. Mục tiêu chính của sự thực hiện này là loại bỏ bám chấp vào bản ngã và vô minh trong dòng tâm thức hành giả qua nhận biết, và loại bỏ chúng từ dòng tâm thức người khác qua các hoạt động của lòng bi.
2. Hợp nhất. Điều này có hai khía cạnh, tương đối và tuyẹât đối. Khía cạnh tương đối là kết hợp vật chất, khiến đem lại cực lạc, biểu tượng của trí tuệ bổn nguyên. Khía cạnh tuyệt đối là thiền định và nhận biết sự hợp nhất của hình tướng và tánh Không, khiến phát sinh trực tiếp đại cực lạc tuyệt đối.
3. Lấy những vật không được cho, khi mục đích là lớn hơn.
4. Nói dối vì lợi ích người khác.
5. Thờ phụng vì mục đích dẫn dắt người khác đến Giáo Pháp.

B. Năm Giới Không Từ Bỏ: Trong trường hợp này chúng ta không nói về các cảm xúc thông thường là những năng lượng với ý định thanh tịnh.

6. Không từ bỏ thèm khát – sự khao khát đến tất cả bà mẹ chúng sanh với lòng bi.
7. Không từ bỏ thù hận – sự thù ghét khiến loại bỏ tà kiến.
8. Không từ bỏ si mê – sự si mê không có tư duy phân biệt vì sự nhận biết thanh thản của luân hồi và niết bàn.
9. Không từ bỏ kiêu mạn – sự tự hào khiến có tự tin trong cái thấy bình đẳng.
10. Không từ bỏ đố kỵ – sự đố kỵ khiến không thừa nhận quan điểm và hoạt động nhị nguyên vào lãnh vực của bản tánh tối thượng. Nếu bạn đố kỵ, bạn sẽ không muốn để người nào vào cửa. Tương tự như vậy, sự đố kỵ không để tính nhị nguyên đi vào lãnh vực của bản tánh tối thượng.

C. Năm giới của việc chấp nhận: Điều này biểu hiện sự chấp nhận bất cứ thứ gì không phân biệt.

11. Chấp nhận phân (purisha).
12. Chấp nhận nước tiểu (mutra).
13. Chấp nhận máu (rakta).
14. Chấp nhận thịt (mamsa).
15. Chấp nhận tinh dịch (shukra).

D. Năm Giới Của Nhận Biết Thanh Tịnh

16. Năm kết tập (ngũ uẩn) như năm vị Phật và năm gia đình Phật.
17. Năm nguyên tố như năm vị phối ngẫu nữ của năm vị Phật.
18. Năm đối tượng cảm giác như năm nữ Bồ tát.
19. Năm giác quan như năm Bồ tát nam.
20. Năm màu như năm trí tuệ nguyên sơ.

E. Năm giới của sự đạt được thành tựu: Qua năng lực của năm tri kiến trước đó như là nhận ra các uẩn là năm vị Phật, nó là sự đạt trạng thái của năm gia đình Phật.

21. Sự thành tựu của Phật bộ.
22. Sự thành tựu của Kim Cương bộ.
23. Sự thành tựu của Bảo bộ.
24. Sự thành tựu của Liên Hoa bộ.
25. Sự thành tựu của Tác Nghiệp bộ.

 

Ngài Guru Menla

NHỮNG GIỚI LUẬT ĐẶC BIỆT CỦA DZOGPA CHENPO

Do nhận ra Dzogpa Chenpo và duy trì nhận biết của nó, hành giả giữ gìn những giới luật đặc biệt – kiến, thiền, và hành của Dzogpa Chenpo, đó là sự thành tựu tự nhiên, toàn bộ, toả khắp, và thoát khỏi việc khái niệm hóa, kinh nghiệm, phân biệt, và giới hạn. Đó là bốn giới luật đặc biệt của Thregcho và Thogal trong Dzogpa Chenpo.

Hai Giới Của Thregcho

1. Không hiện hữu (Med Pa). Dzogpa Chenpo có một quan điểm tránh việc lấy hay bỏ. Giới luật này ám chỉ sự nhận biết không hiện hữu của bản ngã khiến vượt qua sự vi phạm bằng việc hiểu biết, kinh nghiệm, hay nhận biết giác tánh nội tại của thanh tịnh bổn nguyên.

2. Toàn khắp (Phyal Ba): Nhờ duy trì tinh chất, bản tánh, và lòng bi qua bốn thiền định tự nhiên (Chos bZhag bZhi) của Thregcho, tất cả hàng trăm ngàn giới luật sẽ được hoàn thiện, giống như hành trăm dòng nước được một cây cầu bắc ngang.

Hai Giới Của Thogal

3. Duy nhất (gchig pu). Nhờ tiếp nhận trao truyền đặc biệt của Dzogpa Chenpo, hành giả Mật Tông Kim Cương Thừa đạt được trạng thái hoàn thiện luân hồi và niết bàn như một, và điều đó tỏa khắp mọi hiện tượng hiện hữu qua năng lực duy nhất của giác tánh nội tại.

4. Thành tựu tự nhiên (Lhun Grub). Nếu hành giả Mật Tông Kim Cương Thừa đã hoàn thiện nhận biết của Dzopa Chenpo, thì khi đã thực sự từ bỏ nền tảng làm hại người khác, hành giả đã hoàn thiện việc tuân thủ giới luật Vinaya. Vì hành giả Mật Tông Kim Cương Thừa có lòng bi phi quan niệm đến tất cả chúng sanh đang sống chưa nhận biết, hành giả đã phát triển tư duy lợi ích cho người khác nên đã hoàn thiện giới luật của Bồ tát. Vì hành giả đã hoàn thiện tánh giác nội tại, nên đã hoàn thiện giới luật. Một người như vậy đã hoàn thiện mọi giới luật chỉ với một nhận biết duy nhất.

OM AH HUM BENZA GURU PADME SIDDHI HUM

Share:

NHỮNG GIỚI LUẬT CỦA TU HÀNH MẬT TÔNG KIM CƯƠNG THỪA VÀ GIỚI LUẬT RIÊNG CỦA ĐẠI VIÊN MÃN (PHẦN I)

 

NHỮNG GIỚI LUẬT CỦA TU HÀNH MẬT TÔNG KIM CƯƠNG THỪA

GIỚI LUẬT



Sau khi tiếp nhận một quán đảnh từ vị Thầy Mật Tông Kim Cương Thừa, hành giả duy trì nhận biết bằng phương tiện của tâm linh hay cái thấy, kinh nghiệm, nhận biết của Mật Tông Kim Cương Thừa và cuộc sống phù hợp với giáo lý. Đây là sự tuân thủ giới luật (samaya). Nó là sự tương tục của sự thành tựu tâm linh sâu thẳm nhất và mật truyền của hành giả, nhận được trong khi quán đảnh.

BA PHÂN CHIA CỦA GIỚI LUẬT

Trong Phật giáo, có ba phân chia kỷ luật hay giới luật chính (sDom Pa). Đầu tiên là giới luật của Vinaya, kỷ luật của tu sĩ đạo Phật và người sùng mộ bình thường. Giới luật Vinaya chủ yếu là giới luật về thân. Thứ hai là giới luật Bồ tát. Rèn luyện này dựa trên việc có duy trì khao khát và cống hiến để phục vụ tất cả chúng sanh không có bất cứ tư lợi nào. Do đó, giới luật của Bồ tát chủ yếu là tinh thần. Thứ ba là giới luật mật tông. Giới luật này được đặt nền tảng trên trí tuệ bổn nguyên. Khi nhận quán đảnh, hành giả nên hiểu và nhận ra ý nghĩa của quán đảnh là trí tuệ, và sau đó duy trì trí tuệ đó bằng việc duy trì giới luật thanh tịnh. Thế nên, duy trì trí tuệ bổn nguyên là giới luật mật tông. Do vậy, giới luật Vinaya chủ yếu dựa căn bản trên cư xử về thân, giới Bồ tát dựa căn bản trên thái độ tinh thần, và giới mật tông dựa căn bản trên trí tuệ bổn nguyên, sự nhận thức thanh tịnh.

THỜI GIAN THỌ GIỚI

Có những khác biệt trong khi bạn nhận nhiều giới luật khác nhau. Trong rèn luyện của Vinaya hay Bồ Tát, các bản văn và giới luật giải thích trong rèn luyện đó được học trước, sau đó hành giả quyết định thọ giới hay không. Nhưng trong Mật Tông Kim Cương Thừa, trước tiên là nhận quán đảnh, và sau đó là học. Theo truyền thống, hành giả không thấy, đọc, hay nghe bất cứ điều gì về tantra cho đến khi nhận được trao truyền bằng việc nhập môn vào Mật Tông. Ở đây, hành giả có thể có nghi ngờ, “Làm sao tôi có thể tiếp nhận giới luật Mật Tông mà không được biết về chúng?” Đó là điểm cốt lõi! Mật Tông chỉ dành cho người đặc biệt đã chuẩn bị và không nghi ngờ. Mật Tông không dành cho người chưa biết hay chưa chuẩn bị. Trong Mật Tông Kim Cương Thừa, sau khi nhận quán đảnh bạn phải bảo tồn giới luật. Nó có tiềm năng lợi ích cũng như làm hại mạnh mẽ. Về tiếp nhận quán đảnh, đệ tử phải là người có năng khiếu đặc biệt, vị thầy là một người giác ngộ, và mandala đã ban phước như chất liệu trí tuệ. Khi có được sự kết hợp ba phẩm tính này, thì không cần đi qua tiến trình học trước, rồi sau đó quyết định thực hiện hay không. Việc sẵn sàng đồng nghĩa với việc được tiếp nhận vào Tantra.

GIỚI LUẬT CHUNG CHO CẢ HAI TRUYỀN THỐNG MẬT TÔNG KIM CƯƠNG THỪA CŨ VÀ MỚI

Có nhiều phạm trù giới luật. Trong tantra nội, chung cho cả hai tantra mới và cũ, có mười bốn vi phạm gốc (hay sa sút gốc, rTsa lTung), và tám vi phạm nặng (hay sa sút phụ, sBom Po).

MƯỜI BỐN VI PHẠM GỐC

Thứ NhấtKhinh chê hoặc phỉ báng Đạo Sư.

Thứ Hai: Khinh chê giáo huấn về Mật Giới

Thứ Ba: Không cần thiết nhưng lại phê phán đạo hữu kim cang, những người cùng nhận quán đảnh với mình từ một vị Thầy.

 

Ngài Guru Menla

 

Thứ Tư: Từ bỏ phát tâm từ bi với mọi chúng sinh hữu tình

Thứ Năm: Không hành trì Bồ Đề Tâm

Thứ Sáu: Bắt lỗi lời Phật dạy trong kinh điển Hiển Giáo lẫn Mật Giáo

Thứ Bảy: Tiết lộ giáo lý thực hành bí mật trong Mật Tông Kim Cương Thừa cho những người chưa học hoặc chưa nhận Quán Đảnh

Thứ Tám: Khinh chê thân người của chính mình

Thứ Chín: Từ bỏ thực hành tánh không

Thứ Mười: Thân cận người độc hại

Thứ Mười Một: Không ghi nhớ quan kiến về tánh không

Thứ Mười Hai: Đưa thông tin sai lệch làm thối thất hoặc hủy hoại tín tâm vào Phật Pháp và Giáo Pháp Mật Thừa của người khác

Thứ Mười Ba: Không hành trì đúng đắn những thệ nguyện về mối liên hệ giữa Thầy và trò

Thứ Mười Bốn: Khinh chê nữ giới

TÁM VI PHẠM THÔ

Sau khi đi vào các tantra nội, chúng ta nên kiềm chế vi phạm bất cứ một trong tám vi phạm thô sau đây:
1. Có một phối ngẫu là người thường, chưa được nhập môn vào con đường mật truyền.
2. Tiếp nhận cam lồ từ một nguồn không thích hợp, một phối ngẫu mật tông chưa nhập môn.
3. Không che dấu những biểu tượng bí mật của mật tông với các kinh mạch không thích hợp, người chưa nhập môn.
4. Quấy động bằng lời nói, thân thể trong tập hội mật tông như các nghi lễ bữa tiệc cúng dường.
5. Không nói sự thật hay không dạy cho người có kinh mạch thích hợp, mà lại nói điều đó cho người khác. Chẳng hạn, nếu người nào đó là một kinh mạch thích hợp cho Atiyoga mà lại đưa giáo lý của sutra (giáo tông).
6. Ở trong một nhóm thiếu tôn kính đến quan điểm và các thực hành của mật tông hơn bảy ngày. Điểm quan trọng là bạn nên luôn kiểm tra và đánh giá những gì có lợi nhất.
7. Ngụy tạo hay khoe khoang bạn là một Vajradhara (vị thầy mật tông) của tantra với sự tự kiêu, mặc dù bạn không có trí tuệ như vậy.
8. Đưa giáo lý bí mật cho người mà trước đó đã nhận giáo lý bí mật mà hiện nay không có niềm tin.

Share:

Hướng dẫn xem tướng tay chân có thể biết sướng hay khổ

 Về bàn tay thì kích thước, độ dày mỏng của bàn tay, độ dài ngắn, to nhỏ của ngón tay, hình cục giữa các bàn tay, đường vân trên bàn tay,... đều có những học thuyết mệnh lý phức tạp. Còn về chân, dù nằm ở phần dưới cùng của cơ thế nhưng nó lại có trách nhiệm vô cùng to lớn, đó là nâng đỡ trọng lượng của cơ thế, do vậy thông qua hình dáng ta có thể phán đoán được sự phú quý và bẩn hàn của một người.

Tay và cánh tay đểu dài: là tướng cát

Cánh tay nên dài không nên ngắn, người có cánh tay ngắn thường có bệnh trong người. Giọng nói nên êm tai. Bàn chân nên vuông và dày, không nên nhỏ và mỏng, như vậy đi lại mới vững chắc, cho thấy người này có cơ sở vững chắc. Tay và chân vừa chắc vừa dài, cho thấy người này luôn có người ở bên giúp đỡ. Ngón tay trên hẹp dưới rộng như cọng hành tươi, nhưng lại thẳng và thuôn dài, người này được hưởng phú quý. Cánh tay nên dài, nếu cánh tay dài quá đầu gối thì có thể được quý nhân giúp đỡ và cất nhắc, và ngay cả chính bản thân họ cũng có thể làm nên sự nghiệp. Nhưng nếu cánh tay dài quá đầu gối thì trường hợp này rất ít gặp. Bàn tay không có vân nghĩa là vân trên bàn tay nhẵn nhụi và không rõ nét, chứ không có chuyện bàn tay không có bất kỳ đường vân nào. Nếu vân tay của một người quá phẳng và nhẵn nhụi thì cho thấy người này phải làm việc vất vả nhưng thành quả thu được lại rất ít, mà làm việc gì cũng dễ khiến người ta từ chối hợp tác.
 
Bàn tay của người già vì da bị chùng nhão nên dễ xuất hiện nhiều nếp nhăn. Nhưng nếu người trẻ mà có hiện tượng này thì da phẩn là do làm lụng vất vả, người như vậy thường là lao động chân tay, đời sống không khấm khá, cả đời không làm nên công trạng gì. Tay chân mập mạp và mềm mại, người này thường có vận thế thời trẻ rất tốt, điều kiện gia đình khá giả, từ nhỏ đã được cưng chiều, không phải chịu vất vả, mà chỉ biết hưởng thụ. Sau tuổi trung niên cũng không gặp nhiều khó khăn, cuộc đời của người này tương đối may mắn, có thể được hưởng phú quý suốt cuộc đời.
 
Bàn tay nên nhẵn mịn, sáng bóng và hồng hào, các đường vân sâu và nhỏ, không chồng chéo lên nhau, người này thường được hưởng cuộc sống vinh hoa phú quý.

Bàn tay chu sa: hưởng phú quý

Người có cánh tay dài thì tính tình hào phóng, không so đo tính toán thiệt hơn, cūng luôn sẵn sàng giúp đỡ và ban ơn cho người khác. Còn người có cánh tay ngắn thì tính tình keo kiệt, hay so đo tính toán, chỉ quan tâm xem mình có thiếu gì hay không.
Nếu trên bàn tay có sắc đỏ tươi, giống như màu chu sa thì đó gọi là bàn tay chu sa. Người có bàn tay này thường được hưởng phú quý. Ngón tay như đốt tre, khi khép lại có thể nhìn thấy rô kế hở giữa các ngón tay, người có kiểu bàn tay này thường có ít tiền của, và không tích góp được gì. Người này thường không am hiểu thế tục, để theo đuổi sự lý tưởng họ không quan tâm đến hiện thực, và tất nhiên cũng không coi trọng tiền bạc, dù có kiếm được tiền họ cũng không lên kế hoạch chi tiêu, cho nên hay phải lo lắng về vấn để sinh hoạt.
Ngoài ra, người có đầu ngón tay hình vuông, tức không nhọn và nhỏ, mà vuông và to thì tính tình cẩu thả. Do vậy khi xử lý vấn để thường không thể phân tích vấn để một cách kỹ càng, và cũng không thể quyết đoán, người như vậy thường cũng không biết nhìn xa trông rộng.

Xem tay chân: có thể biết sướng hay khổ

Vui buồn, sướng khổ,... thuộc về tâm trạng của con người, những tâm trạng này đều có thể nhận biết được thông qua dáng vẻ bề ngoài. Muốn biết cuộc sống của một người là sướng hay khổ thì có thể xem tay chân của họ. Người có tay chân vuông vắn, dày dặn và mềm mại thường có cuộc sống hạnh phúc, tinh thần luôn lạc quan. Trái lại, người có tay chân nhỏ và cứng thì cuộc sống thường gặp nhiều trắc trở, mà tâm trạng đau khổ cũng luôn hiển hiện trên khuôn mặt của họ. Nhìn vào da và lông là có thể biết được người đó có thông minh và hiểu biết hay không. Người có trình độ thì lông và tóc thường mềm, da nhẵn mịn và sáng bóng:
  • Da ngón tay giống như da ngỗng, lại có nhiều nếp nhăn sâu và nhỏ, người này tính tình thật thà chất phác và tốt bụng.
  • Tay không nên to, thô và mập như “chân heo”, người có tướng tay này thường ngây ngô dại dột, không có chí khí.
  • Gân và xương ở mu bàn chân nổi quá rõ, đây được coi là bàn chân mỏng, người này thường cả đời phải vất vả chạy ngược chạy xuôi. 
  • Gan bàn chân có nhiều thịt, cho thấy người này khoẻ mạnh. Bàn chân của người giàu có cũng có rất nhiều thịt, và không nhìn thấy gân và xương, bàn chân thường vuông, dày và mềm. 
Còn đối với người nghèo khổ thì mu bàn chân thấp và mổng, gần và xương lộ rõ, và trông có vẻ hơi cứng. Bàn chân không có gót không có nghĩa là bàn chân đó thực sự không có gót chân, mà ý muốn nói người đó khi đi thì gót chân thường không chạm đất. Người này thường có cuộc sống phiêu bạt, vận thế không ổn định, tuổi thọ cũng không cao.

Tay dài: hưởng nhiều phúc lộc

Người có tay dài thường được hưởng nhiều phúc lộc. Nếu trên bàn tay có nốt ruồi đen thì đó là tướng bàn tay may mắn. Tay và chân thường đong đưa, khi đứng người không thẳng, mà thường nghiêng ngả. Người này tính tình ngang ngược và nóng nảy, khó giữ bình tīnh, vận thế thăng trẩm, mọi việc không suôn sẻ. Điều quan trọng nhất đối với người có thân hình đẹp đó là tứ chi phải cân đối, nếu thân dài thì tay phải dài. Nếu thân dài mà tay ngắn thì người này không thể có tuổi thọ cao, hơn nữa cuộc sống lúc trẻ lại không thuận buồm xuôi gió, đến khi về già vẫn không lập nên công trạng gì, và cũng không được hướng cuộc sống nhàn hạ.
 
Bàn tay không nên quá to hoặc quá mập, không nên có hình thù kì dị hoặc nhăn nheo, hai bàn tay nên đầy đặn, có như vậy mới thông minh và phú quý.

Ngón tay nhỏ và mềm: da tài đa nghệ

Ngón tay nhọn, nhỏ, mềm và đẹp, dây thường là bàn tay của nhà nghệ thuật. Người này có năng khiếu nghệ thuật, có tài hội hoạ, biểu diễn, ca hát,... Họ thường lý tướng hoá và có cách suy nghĩ không thiết thực. Nếu các bộ phận khác trên khuôn mặt đểu cân đối thì chắc chắn có thể công thành danh toại. Nếu không cần đối thì tuy có tài nhưng cũng không có cơ hội thể hiện, tâm trạng lúc nào cũng buồn bực và sầu não. Cánh tay dài và thẳng, tròn chứ không nhô xương ra ngoài, da nhẵn mịn và trơn bóng, thịt dày, người có cánh tay này thường có địa vị cao quý, vận thế cũng tốt hơn người khác. Đường vân thông quan tức đường trí tuệ và đường tình cảm hợp lại làm một và chạy ngang qua lòng bàn tay, trông bàn tay như bị đứt làm đôi, do vậy mới được gọi là bàn tay gãy. Người có kiểu bàn tay này tính tình ngay thẳng, chuyên quyển độc đoán, đời sống hôn nhân dễ có vấn để. Người xưa cho rằng, con trai mà có bàn tay gãy thì dễ ly hôn, rất nhiều người trong số họ đều phải trải qua hai lần lập gia đình. Nếu con gái có bàn tay gãy thì ảnh hưởng đến vận mệnh của chổng, và đời sống hôn nhân cũng không thể hạnh phúc.

Tay trái và tay phải: phải xem riêng rẽ

Tay nên dài không nên ngắn, người có tay trái ngắn thường kém hiểu biết, không thích hợp với công tác văn hoá. Người có tay phải ngắn thì thể trạng không tốt, không thích hợp với công việc liên quan đến ngành quân đội. Sự phân chia trái phải được dựa theo lý luận âm dương cương nhu trong Kinh Dịch, người xưa cho rằng trái là văn, phải là võ. Vì vậy dưới đây khi xem tướng tay chân đểu thể hiện rõ sự khác biệt giữa tay trái và tay phải, và lần lượt phân tích trạng thái cát hung thể hiện qua hai tay. Nếu một người khép các ngón tay lại rồi duỗi ra mà thấy hơi cong, cho thấy người này muốn sở hữu mọi thứ, có thể tận dụng mọi cơ hội để đạt được mục đích, là người ích kỷ. Ngón tay bên trái cong, người này vì luôn muốn sở hữu mọi thứ nên trong lòng thường thấp thỏm không yên. Ngón tay bên phải cong, người này có thể làm giàu một cách không chính đáng, nhưng của cải dễ đến và cũng dễ đi. Duỗi bàn tay rồi khép lại thấy ngón tay cong về phía sau, nếu là ngón bên trái thì người này khổ trước sướng sau. Nếu là ngón bên phải thì người này nghèo nhưng lại tham lam.
 
Ngón tay dính vào nhau tức là khi khép bàn tay lại nhưng không thể xoè ra, người này tính tình bảo thủ, hướng nội, thiếu tinh thần can đảm. Nếu ngón bên trái dính vào nhau thì người này cả đời nghèo khổ và cô độc. Nếu là ngón bên phải dính vào nhau thì người này vừa nghèo khổ vừa sống không thọ.Ngón tay đều nhau tức chỉ ngoài ngón cái thì bốn ngón còn lại đểu và thẳng như nhau, đây là kiểu bàn tay đẹp. Người có kiểu bàn tay này tính tình không phức tạp mà rất thẳng thắn, làm việc gì cũng có chừng mực nhất định. Nếu các ngón bên tay trái đểu thì người này hiển đạt tương đối muộn. Nếu các ngón bên tay phải đểu thì người này hiển đạt từ khi còn rất trẻ.
 
Bàn tay nên dài không nên ngắn, tay trái và tay phải cần phù hợp với lý luận âm dương. Cuốn sách này khi luận bàn về bàn tay cũng thường phán đoán riêng lẽ.
 
Móng tay có thể phản ánh tình hình sức khoẻ của một người. Móng tay có màu trắng, người này tính tình dâm đãng, có nhiều ham muốn về sắc dục. Móng tay dày và cứng, dây là người sang trọng, có thể lập nên công trạng. Móng tay mỏng, giòn và dễ bị gāy, người này có thể trạng yếu, đa số đểu có hoàn cảnh xuất thân thấp hèn, cả đời không làm nên trò trống gì.
Lòng bàn tay thường hơi trūng xuống, nhưng nếu lòng bàn tay bên trái trũng xuống rất sâu thì cho thấy đây là người luyện võ. Nếu lòng bàn tay bên phải trūng xuống rất sâu thì cho thấy người này có thân phận thấp hèn, cuộc sống nghèo khổ và thường phải đi làm thuê cho người khác. Bốn ngón tay đểu nhau tức ngoài ngón cái thì bốn ngón còn lại dài gần bằng nhau. Người bình thường thì bốn ngón đểu có sự khác biệt. Còn người có bốn ngón đểu nhau thường là người sang trọng. Người có bốn ngón bên tay trái đểu nhau có thể làm việc trong một tổ chức lớn hoặc trong văn phòng chính phủ, và có thể nắm quyển trong tay. Người có bốn ngón bên tay phải đều nhau có thể phát triển trong ngành quân đội.

Chân: nên dài không nên ngắn

Chân cũng như tay, tức nên dài không nên ngắn. Người có chân ngắn thì nền tảng không tốt, cả đời phải làm lụng vất vả. Người có chân trái ngắn thì cuộc sống vất vả và phải chịu cảnh cô độc. Người có chân phải ngắn thì từ nhỏ đã chịu thiệt thòi, cả đời phải sống trong cảnh nghèo khổ. Ngón chân không nên cong như móc câu, người như vậy thường gặp nhiều khó khăn và thất bại trong cuộc sống, thậm chí phải chịu cảnh tù tội. Người có ngón chân bên trái cong thì có địa vị thấp hèn. Người có ngón chân bên phải cong thì có thể dính dáng đến kiện tụng hoặc tù tội. Ngón chân bên trái lật ra ngoài, người này sống cô đơn đến già, cuộc. sống nghèo khổ. Ngón chân bên phải lật ra ngoài, cuộc sống của người này bấp bênh không ổn định, sống lưu lạc khắp nơi. Ngón chân không được cong vào trong và cũng không được lật ra ngoài, tốt nhất là chụm lại với nhau. Người có ngón chân chụm đều thường là người sang trọng. Ngón chân bên phải chụm đểu, người này tuy không sang trọng nhưng lại có thể ở gần quý nhân, và được quý nhân giúp đỡ.
 
Theo như sách tướng số quan niệm trái văn phải vō thì người có ngón chân bên trái đểu nhau có thể nắm giữ quyền hành trong tay. Còn người có ngón chân bên phải đều nhau thì có thể trở thành một danh tướng. Móng chân và móng tay đểu không nên có màu trắng. Nếu xuất hiện màu trắng thì cho thấy sức khỏe có vấn để. Móng chân không nên lōm vào hoặc lật ra, người có kiểu móng chân này thường phạm tội hình sự.
Nếu quặp ngón chân lại mà không thể duỗi ra thì đây cūng không phải là cát tướng. Người có ngón chân bên trái khít liển với nhau thường có ít người thân, cả đời phải sống cảnh cô đơn và nghèo khổ. Người có ngón chân bên phải khít liển với nhau có thể bị tù tội, hoặc dính dáng đến kiện tụng.
Share:

Các nghi lễ cho người chết theo quan niệm Phật giáo

 Trước khi hoặc trong khi người quá cố đang hấp hối, người nhà phải thực hiện nghi lễ tắm rửa, thay quần áo cho người đó. Trên thực tế, nghi lễ này chính là tiến hành chỉnh trang lần thứ nhất trong người quá cố.

 
Từ hàng ngàn năm nay, trong dân gian da hình thành một loạt tập tục tổ chức tang lễ tương đối hoàn thiện. Có thể nói, phần lớn các tập tục này đều dựa trên các nghi thức cúng tế của Đạo giáo. Ban đầu, Đạo giáo chỉ phổ biến trong dân chúng; các nghi thức cúng tế độc đáo cũng được triển khai rộng rãi trong dân gian. Về sau, các nghi thức này dần được kết hợp với tín ngưỡng và phong tục dân gian. Đạo giáo cũng không ngừng dung nạp những phong tục tập quán của dân gian để làm đầy đủ và phong phú hơn cho các nghi thức cúng tế riêng có của mình, nhằm thích ứng với nhu cầu tâm lý truy điệu người chết của tất cả mọi người.

Chúc khoáng

"Chúc khoáng" là cách người xưa dùng để kiểm tra xem người đang hấp hối đã thật sự tắt thở hay chưa trước khi tổ chức tắm rửa, thay quần áo cho người đó. "Chúc" nghĩa là đặt, để; "khoáng" nghĩa là xơ bông hoặc bông tơ còn mới."Chúc khoáng" là đặt xơ bông hoặc bông tơ còn mới ở phía trước mũi hoặc miệng của người đang hấp hối. Xơ bông rất nhẹ, nếu người đó vẫn còn thở thì chắc chắn sẽ động đậy; ngược lại, nếu xơ bông không động đậy có nghĩa là người đó đã thật sự tắt thở, người nhà có thể bắt đầu tổ chức việc tang. Trong "Lễ ký - Đại ký" có viết: "Chúc khoáng là để kiểm tra xem một người nào đó còn thở hay không."

Tắm gội

Tức là tiến hành tắm gội sạch sẽ cho thi thể của người chết. Cách tắm gội cho người chết về cơ bản cũng tương tự như tắm gội cho người sống, bao gồm cả việc cắt móng tay và cạo râu ria. Nghi lễ này trong đời nhà Chu như sau: Đào một hố sâu trong phòng ngủ, sau đó đặt một chiếc giường phía bên trên hố đó. Thi thể người chết được tắm gội ngay trên giường, nước tắm gội thi thể sẽ chảy xuống dưới hố. Sau khi tắm gội, trên chiếc giường đặt thi thể sẽ đặt thêm một chậu nước đẫy. Nghi lễ tắm gội từ đời Chủ được người đời sau kế thừa, mô phỏng theo.Tuy nhiên, quá trình tắm gội cho người chết không có quy định thống nhất, có những nơi tiến hành tắm rửa trước nhưng cũng có những nơi lại chỉnh trang dung nhan trước. Càng về sau này, trình tự của quá trình tắm gội cho người chết càng trở nên đơn giản hoá.
 
Các bước chuẩn bị để hoàn tất đưa thi thể vào quan tài

Thay quần áo

Việc thay quần áo cho người chết còn được gọi là "tiểu liệm". Tập tục này đã có từ trước đời Chủ và đến đời Chủ thì càng trở nên thịnh hành, phố biến hơn. Thời gian thay quần áo là vào buổi sáng sớm của ngày hôm sau sau khi người đó qua đời. Sau khi thay quần áo, người nhà sẽ quấn chăn xung quanh thi thể rời dùng dây thừng buộc chặt lại. Sau đó lại trùm bao bố lên trên thi thể, cuối cùng là dùng chǎn phú kín. Tiếp đón, người nhà dọn cơm rượu cúng tế cho người chết, gọi là "cúng tiểu liệm". Đêm hôm đó, trong sân nhà phải thắp rất nhiều đền nến. Quần áo "tiểu liệm" cho người chết kỵ dùng vóc (hàng dệt tơ dày, một mặt nhẵn bóng) bởi từ này trong tiếng Trung Quốc đổng âm với "đoạn tử"', nghĩa là "tuyệt tự", sợ rằng gia đình sẽ gặp ác báo tuyệt tử tuyệt tôn. Thông thường, người ta dùng lụa để may quần áo "tiểu liệm" cho người chết, vì từ lụa trong tiếng Trung Quốc đồng âm với từ "trù tử"', nghĩa là phù hộ độ trì cho các thế hệ sau được đông con nhiều cháu. Tập tục thay quần áo cho người chết được truyền thừa theo các đời nhưng về sau đã được đơn giản hoá rất nhiều so với tập tục ở đời Chu.

Mua nước

Trong dân gian, nước dùng để tắm gội cho người chết đều do người nhà đi mua về, tục gọi là "mua nước". Mục đích mua nước vẽ tắm gội cho người chết ngoài việc tẩy rửa sạch sẽ tất cả những tội lỗi người đó phạm phải khi còn sống thì chủ yếu là để linh hồn người đã chết biết rằng, đây không phải là tắm gội cho người còn sống mà là để người chết được sạch sẽ khi đến cõi âm gian, mang lại vinh quang cho tổ tiên. Sau thời gian quàn linh cữu, người nhà phải lựa chọn, định ngày để báo tang. Có thể nói, báo tang chính là một nghi thức đầu tiên sau khi người chết qua đời. Đây là phương thức dùng các tín hiệu để đưa thông tin về cái chết của người quá cố đến thân bằng cố hữu. Nghi thức báo tăng muôn màu muôn vẻ, mang những đặc sắc khác nhau.

Khái quát về việc "báo tang"

"Báo tang" là việc gia đình người quá cố loan báo thông tin về cái chết, ngày giờ tổ chức phúng viếng và chôn cất người quá cố đến đông đảo người thân, bạn bè, láng giểng. Những người này sau khi biết được thông tin sẽ đến chia buồn, phúng viếng. Cùng lúc với việc báo tang, người nhà phải treo một vật làm dấu hiệu lên trước cửa nhà, gọi là "khiêu tiễn". "Tiễn" ở đây chính là phướn giấy, có nơi gọi là "giấy thông thiên".

Giấy báo tang - cáo phó

Cáo phó là hình thức báo tăng được phổ biến rộng rãi nhất. Nếu gia đình người chết không viết cáo phó thị đích thân người nhà hoặc sẽ phải người khác đến nhà của các thân nhân, bạn bè thông báo cho họ về cái chết của người quá cố. Tất cả các thư tín khác đều nhất loạt, dừng lại. Với những thư tín được gửi đến để viếng và chia buồn, người nhà chỉ phúc đáp sau khi kết thúc lễ “tốt khốc”. Nội dung của các phó thường bao gồm này giờ mất, hưởng thọ của người chết, thời gian và địa điểm tổ chức tang lễ,...

Treo đèn tang

Một số địa phương dùng hình thức treo đèn tầng để báo tang. Có mấy dạng đèn tang như sau:
Đèn cổng: Đèn tròn, đế trắng, chữ màu xanh lam; ở phía trước và phía sau viết hai chữ "đại môn" theo thể Tống. Đèn này được treo ở dưới mái hiên, ngay chính giữa cổng chính.
 
Đèn báo tang dùng để báo cho người thân, bạn bè rằng trong nhà đã có người mất
 
Đèn quả quýt: Có hình quả quýt, đế trắng, chữ màu xanh lam. Nếu người chết là nam giới thì viết chữ "Hương ẩm đại tân"; nếu người chết là nữ giới thì viết chữ "Nhụ nhân" rồi treo ở hai bên cổng chính.
Đèn hiếu: Có hình trụ tròn, đế trắng, chữ màu xanh lam. Phía trước viết "Kỷ đại đại phụ (mẫu)", phía sau viết tên họ của người chết. Căn cứ vào số đời con cháu mà người chết có để dùng vải màu trắng, màu đỏ hoặc màu lam, gấp thành số trong đó rồi đốt bỏ. Đèn đỏ: Dạng nhỏ, đế màu đỏ và không viết chữ; còn được gọi là "tiểu hiếu hồng đăng".

Dùng ô báo tang

Phương thức báo trang này rất thịnh hành ở vùng Triết Giang. Cách thực hiện như sau: Phía một người thân trong gia đình đi báo tang. Người báo tin cẩm một chiếc ô che mưa, cắp ngược ở dưới nách, tục gọi là "mang ngược ô báo tử". Người xưa cho rằng linh hồn người chết sẽ nấp trong chiếc ô đó để đi cùng. Khi đến nhà người thân, bạn bè; người này sẽ dựng chiếc ô ở bên cạnh cửa, đầu quay xuống đất, các hướng lên trên. Người nhà nhìn thấy là đã biết có chuyện gì xảy ra, sẽ vội vàng chuẩn bị một bát canh trứng để mời người báo tang vào nhà ăn uống. Ý nghĩa của việc mời canh này là để giải trừ ám khí cho người báo tang. Người này chỉ ăn một chút gọi là ổi sẻ cáo từ, sau đó thông báo ngày giờ khâm liệm. Sau khi người đó đi khỏi, gia đình sẽ phải đập vỡ một cái bát để tiêu trừ tang khí, tiếp đó là chuẩn bị lễ vật, hương nến đến phúng viếng người quá cố.
Share:
Main Ad ➤ Click "VÀO ĐÂY" Doanh nhân và Thương hiệu ASEAN luôn cập nhật

Quốc Gia Truy Cập

Flag Counter

Bài đăng nổi bật

Cách đưa Webite lên Index

  Để đưa một website lên Google Index (xuất hiện trên kết quả tìm kiếm), bạn cần thực hiện theo quy trình chuẩn gồm 4 bước chính sau đây. 1....

Bài mới đăng

Flag Counter

Lưu trữ Bài viết

Tổng số lượt xem trang

Ủng Hộ Chúng Tôi

Liên hệ Nhà thơ Hoàng Huy

Tên

Email *

Thông báo *

Cho Đặt Banner Quảng cáo

Like Fanpage Phong Thủy để cập nhật các thủ thuật mới nhất mỗi ngày OK Để sau