Mùa Xuân, Những Điều Nhất Định Không Nên Làm!
Tìm hiểu về giáo lý, luật lệ, lễ nghi của đạo Cao Đài
Đạo Cao Đài là một tôn giáo nội sinh, xuất hiện năm 1926 ở Nam Bộ, tín đồ chủ yếu là nông dân; sự ra đời của đạo Cao Đài là một tất yếu khách quan nó phản ánh thực trạng xã hội lúc bấy giờ, và sự bế tắc về tư tưởng, sự suy thoái của các tôn giáo, đạo lý đương thời.
Đạo Cao Đài cho rằng con người là tiểu vũ trụ. Con người có phần hồn và phần xác, Thượng đế ban cho mỗi người một linh hồn (gọi là Điểm Linh quang) mượn lấy xác phàm để xuống thế gian rèn luyện, thử thách. Đạo Cao Đài quan niệm thế gian là một trường học và là nơi lập công bồi đức, để không ngừng tiến hóa. Cuộc sống của con người là quá trình hoàn thành những nấc thang tiến hóa cao nhất của vạn vật nhằm đi đến sự hòa hợp với vũ trụ.
Khi con người chết đi thì linh hồn vẫn tồn tại và tiếp tục luân hồi để sống vào kiếp khác, con người tiến hóa là do linh hồn tiến hóa. Vì vậy nếu tu luyện tốt, có nhiều công đức tại thế sẽ được về cõi Bạch Ngọc kinh (Thiên đàng), nếu có nhiều tội lỗi thì vướng mãi trong kiếp luân hồi sinh tử. Tuy vậy, đạo Cao Đài đưa ra khái niệm đại ân xá Kỳ ba nghĩa là người có tâm cầu đạo dù chưa đắc quả tại thế, sau khi chết sẽ được ân xá tiếp tục tu luyện ở cõi vô hình cho đến khi đắc vị, khỏi luân hồi.
Tôn chỉ của đạo Cao Đài là: “Tam giáo quy nguyên, Ngũ chi hiệp nhất” nhằm mục đích phục hưng chân truyền, đây là đường lối căn bản cho nhân sinh tu hành.
Tam giáo quy nguyên là thực hiện tôn chỉ của ba tôn giáo lớn (Phật, Nho, Lão) là Từ bi – Công bằng – Bác ái.
Ngũ chi hiệp nhất là thống nhất 5 ngành đạo (nhân đạo của Khổng tử, Thần đạo của Khương Tử Nha, Thánh đạo của Jesu, Tiên đạo của Lão Tử, Phật đạo của Thích Ca) thể hiện năm trình độ chuyển hóa, tu tiến để đi đến giải thoát một cách toàn diện.
Đạo Cao Đài cho rằng từ khi có loài người, Thượng đế đã ba lần cứu rỗi: lần thứ nhất vào thời thượng cổ do các đấng Phục Hi, Moi – sen làm giáo chủ; lần thứ hai do các đấng Thích ca, Lão Tử, Khổng Tử, Giê - su- Ki – tô, Mô - ha – mét làm giáo chủ; lần thứ ba do đức Thượng đế lập ra và trực tiếp làm giáo chủ trên tinh thần “tam giáo quy nguyên”, “vạn giáo nhất lí”, và hiệp nhất Ngũ chi.
Giáo lý của đạo Cao Đài đề cao tính thiêng liêng, sự huyền diệu của cơ bút, coi đó là phương tiện để con người liên hệ với Thượng đế.
Về luật lệ, lễ nghi, đạo Cao Đài thực hiện theo Ngũ giới cấm và Tứ đại điều quy.
Ngũ giới cấm là không sát hại sinh vật; không trộm cắp, lừa gạt người; cấm tà dâm; cấm uống rượu thịt, ăn uống quá độ; cấm xảo trá, nói năng không giữ lời hứa.
Tứ đại điều quy là tuân theo lời dạy của bề trên, lấy lễ hòa người; chớ khoe tài, đừng cao ngạo; tiền bạc phân minh; trước mặt sau lưng cũng đồng một bực.
Đạo phục chức sắc Cửu Trùng đài: từ phẩm giáo tông, chưởng pháp, đầu sư, phối sư, giáo sư gồm 2 bộ đại phục và tiểu phục. Đại phục mặc vào những ngày đại lễ, có màu sắc theo phái (Thái màu vàng - Thượng màu xanh - Ngọc màu đỏ), đầu đội mũ bát quái tùy theo phẩm trật. Tiểu phục cũng may như đại phục nhưng đầu nhưng đầu đội khăn đóng có 9 lớp.
Về đạo phục nữ phái mặc áo trắng và đội mũ theo phẩm trật.
Lễ nghi đạo Cao Đài khá cầu kì, phức tạp thể hiện tinh thần tam giáo đồng nguyên. Kinh của đạo Cao Đài đọc theo giọng nam ai, nam xuân và có Ban nhạc lễ.
Người tu theo đạo Cao Đài chia thành 3 bậc thực hiện việc giữ giới khác nhau: Hạ thừa, Trung thừa, Thượng thừa.
Hạ thừa là những người (thường là tín đồ) tu tại gia, tuân thủ Ngũ giới cấm, Tứ đại điều quy, Thế luật của đạo, ăn chay lục trai hoặc thập trai.
Trung thừa là những người (thường là phẩm lễ sanh) tuân thủ như bậc hạ thừa nhưng vừa duy trì cuộc sống sinh hoạt gia đình (tại gia) vừa xuất gia tu học tại các Thánh thất hoặc trung tâm Tòa thánh, ăn chay từ 15 ngày trở lên (nửa tại gia, nửa xuất gia).
Thượng thừa là những người (thường là chức sắc từ phẩm giáo hữu trở lên) thực hiện “cắt ái ly gia” hiến thân trọn đời cho đạo, ăn chay trường, luyện đạo, tu hành tại các thánh thất và Tòa thánh.
Đạo Cao Đài có một số ngày đại lễ trong năm theo âm lịch như ngày 09 tháng Giêng lễ vía Đức Chí Tôn, ngày 15/8 lễ vía Diêu Trì Kim Mẫu, ngày 15/10 lễ kỷ niệm khai đạo,… từng hệ phái có ngày lễ kỷ niệm riêng. Hàng ngày có 4 khóa lễ vào các giờ: Tý, Ngọ, Mão, Dậu.
Đạo Giáo Bát Đại Thần Chú
Kẻ trì pháp tại gia sao được gọi Tỳ-kheo?
Bấy giờ, có nhiều Sa-môn phát tâm cạo bỏ râu tóc, ôm bát khất thực, sống đời du hành. Nhìn sang Tăng đoàn của Đức Phật, họ thấy mình khá giống liền nghĩ rằng, kia là Tỳ-kheo thì ta đây cũng là Tỳ-kheo; cũng là Sa-môn Thích tử.
Đức Phật nhiều lần lên tiếng trước hiện tượng này. Ngài ví dụ như con cừu đi theo đàn bò liền nghĩ mình cũng là bò, thực chất thì hình dáng và tiếng kêu đều khác. Đức Phật xác định, không cứ ôm bình bát đi xin ăn thì gọi Tỳ-kheo. Họ còn thuận theo thế tục, chưa tiếp nhận giáo pháp xuất thế thì không thể gọi là Tỳ-kheo.
“Một thời, Đức Phật ở tại vườn Cấp Cô Độc, cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ vào buổi sáng sớm, Đức Thế Tôn đắp y cầm bát vào thành Xá-vệ khất thực. Lúc ấy có một Bà-la-môn tuổi già sức yếu, chống gậy cầm bát đi khất thực từng nhà. Bà-la-môn này từ xa nhìn thấy Đức Thế Tôn liền tự nghĩ: ‘Sa-môn Cù-đàm chống gậy bưng bát, đi khất thực từng nhà. Ta cũng chống gậy ôm bát đi khất thực từng nhà. Ta cùng Cù-đàm đều là Tỳ-kheo’.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói kệ để trả lời:
Được gọi là Tỳ-kheo
Chẳng chỉ vì khất thực
Kẻ trì pháp tại gia
Sao được gọi Tỳ-kheo?
Đã lìa dục tai hại
Tu tập các chánh hạnh
Tâm mình không sợ hãi
Đó gọi là Tỳ-kheo.
Phật nói kinh này xong, Bà-la-môn kia nghe những gì Đức Phật đã dạy, tùy hỷ hoan hỷ làm lễ cáo lui”.
(Kinh Tạp A-hàm, quyển 4, kinh số 97. Khất thực)
Pháp thoại đã chỉ ra rằng, nếu tự cạo đầu, quấn y, ôm bát khất thực, du hành lang thang, tuy có hình thức khác tục nhưng không phải sư hay thầy, chính xác là không phải Tỳ-kheo. Mỗi cá nhân đã không là Tỳ-kheo thì số đông họ nhóm họp lại cũng không thể gọi là Tăng đoàn (Sangha, bốn vị Tỳ-kheo trở lên tu học theo Chánh pháp, thanh tịnh và hòa hợp).
Tỳ-kheo là người xuất gia, tu học với một vị thầy hoặc Tăng đoàn, được Tăng đoàn truyền giới (250 hoặc 227 giới) đúng Pháp và Luật. Vị Tỳ-kheo dù độc cư hay sống chung đều phải thuộc một Tăng đoàn, ít nhất là cùng Tăng đoàn tham dự bố-tát, tụng giới hàng mỗi nửa tháng; nhận sự giáo huấn của vị trưởng thượng trong Tăng đoàn ấy. Vị Tỳ-kheo hàng ngày ôm bát khất thực, bên ngoài đầy đủ oai nghi chánh hạnh, bên trong chuyên tu tập giới định tuệ, nỗ lực đoạn trừ tham sân si.
Việc có người tự nhận là Tỳ-kheo, trong khi không được trao truyền giới luật cũng như thực hành giáo pháp xuất thế đã có từ thời Thế Tôn. Theo dòng lịch sử, vì nhiều lý do khác nhau, hạng Sa-môn này thời nào và xứ sở nào cũng có. Ngày nay, ở Việt Nam, hiện tượng này được truyền thông mạng tung hô rầm rộ cũng không phải là chuyện lạ.
Vẫn biết giáo pháp của Thế Tôn là tài sản của nhân loại, mọi người đều có quyền tập học và thực hành để mang đến điều tốt đẹp. Không nhất thiết là Phật tử, ai cũng có thể tu học theo nhưng tự nhận Tỳ-kheo, lạm xưng Tăng đoàn là không được và không nên. Đạo pháp có thể bị phá hoại, niềm tin của tín đồ có thể bị thối thất, người bên ngoài dễ ngộ nhận, nếu Phật tử chúng ta không có giải pháp phù hợp, kiên quyết với các trường hợp lạm xưng này. Hàng đệ tử Phật nói chung và những vị có trách nhiệm thuộc Giáo hội nói riêng cần phải mạnh mẽ minh định điều này để bảo vệ Chánh pháp.
ĐI NHÉ CON !
ĐI NHÉ CON !
Tam Thanh Đạo tổ
Tam Thanh Đạo Tổ 三青 là hợp xưng của Ngọc Thanh 玉清, Thượng Thanh 上青và Thái Thanh 太青, là nơi cư trú của 3 vị tôn thần tối cao mà Đạo giáo tín phụng, cho nên 3 vị tôn thần tối cao này hợp xưng là “Tam Thanh”.
Tiên tượng Tam Thanh Đạo Giáo
Theo Đạo giáo tông nguyên 道教宗源, thanh khí do hỗn động thái vô nguyên hoá sinh làm Thiên Bảo Quân 天宝君, cũng xưng là Nguyên Thuỷ Thiên Tôn 元始天尊, cư trú tại Thanh Vi Thiên Ngọc Thanh Cảnh 清微天玉清境, nên xưng là Ngọc Thanh 玉清. Khí do xích hỗn thái vô nguyên huyền hoàng hoá sinh làm Linh Bảo Quân 灵宝君, cũng xưng là Linh Bảo Thiên Tôn 灵宝天尊, cư trú tại Vũ Dư Thiên Thượng Thanh Cảnh 禹余天上清境, cho nên xưng là Thượng Thanh 上清. Khí do mịch tịch huyền thông nguyên huyền bạch hoá sinh làm Thần Bảo Quân 神宝君, cũng xưng là Đạo Đức Thiên Tôn 道德天尊, tức Thái Thượng Lão Quân 太上老君, cư trú tại Đại Xích Thiên Thái Thanh Cảnh 大赤天太清境, cho nên xưng là Thái Thanh 太清. Ba vị tôn thần này mỗi vị là giáo chủ, tức Tam Động chi tôn thần, thống ngự các thiên thần, là tông của thần vương, chủ của phi tiên, vũ trụ vạn vật đều do 3 vị sáng tạo ra.
Trong Tuỳ thư – Kinh tịch chí 隋书 - 经籍志cho rằng, Nguyên Thuỷ Thiên Tôn sinh ra trước thái nguyên 太元, thọ bẩm khí tự nhiên, xông lên không trung ngưng tụ lại, chẳng biết chỗ tận cùng, cho nên xưng là Nguyên Thuỷ 元始.
Trong Tuỳ thư – Thích Lão chí 隋书 - 释老志cho rằng, Thái Thượng Lão Quân sinh trước thiên địa, dấu vết vô thường, từng làm thầy Tam Hoàng Ngũ Đế 三皇五帝.
Có thuyết cho rằng, Tam Thanh là 3 hoá thân của Nguyên Thuỷ Thiên Tôn vào những thời kì khác nhau. Cũng có thuyết cho rằng, do Thái Thượng Lão Quân nhất thể mà hoá ra.
BÍ MẬT THÀNH TỰU PHÁP - VIÊN MÃN MỌI MONG NGUYỆN THẾ GIAN
BÍ MẬT THÀNH TỰU PHÁP - VIÊN MÃN MỌI MONG NGUYỆN THẾ GIAN:
Theo Đại sư. Hỏa Phượng Hoàng
Chúng ta vẫn thường hay nghe nói trì chú có vô lượng vô biên công đức, vô số lợi ích hữu dụng để cứu độ chúng ta trong cõi ta bà này như: trị bệnh, tiêu tai giải ách, bảo mệnh hộ thân cho đến cầu tài tăng ích, trường thọ phát triển lòng từ bi trí tuệ, giác ngộ,... âu đa số những người hành trì mật tông trong đời sống hiện tại cũng vẫn thường cầu nguyện thành tựu cho các mong nguyện thế gian. Những ước nguyện thế gian tuy chỉ là giả tạm, là phóng chiếu, song với chúng sinh thì đây vẫn là những điều rất cần thiết. Cũng như khi bạn đang mơ thì giấc mơ đó rất thật, chỉ khi tỉnh dậy nó mới biến mất và bạn mới biết là mình đang mơ. Những trải nghiệm sợ hãi, nguy hiểm, hạnh phúc, buồn đau đều rất thật, vậy nên đôi khi bạn tỉnh giấc trong tâm trạng rất vui hoặc ngược lại là trong nước mắt.
Chừng nào bạn còn trôi lăn trong luân hồi, lẽ tất nhiên chư Phật sẽ trợ duyên để những tâm nguyện của bạn được viên mãn. Vì vậy, hôm nay Hỏa Phượng Hoàng sẽ chỉ dẫn 1 vài công thức hành trì thần chú để biến ước nguyện của bạn trở thành hiện thực. Việc của bạn là phải siêng năng hành trì mỗi ngày để có chánh tinh tấn, việc tinh tấn sẽ giúp bạn có định lực vững vàng để hiện thực hóa ước mơ.
Con người ta khi hành trì thần chú nếu liên tục mỗi ngày không gián đoạn thì sau 21 ngày đã có thể hình thành trong ý thức như 1 thói quen, thường thì sau 100 ngày bạn hành trì liên tục và cầu nguyện 1 ước nguyện nào đó gửi thông điệp vào vũ trụ như vậy thì sẽ đủ năng lượng để biến điều ước đó thành hiện thực. Bài viết hôm nay tôi sẽ chỉ dẫn về việc đưa ước nguyện của bạn trực tiếp vào việc hành trì thần chú của 1 vài bổn tôn phổ truyền. Vị đầu tiên tôi muốn nhắc đến là về độ mẫu Tara. Chúng ta nên tìm hiểu trước về thệ nguyện của ngài.
Đức Lục Độ Phật Mẫu đã phát thệ nguyện rằng: “Bất cứ ai, chỉ cần nghe được hồng danh của ta, nhớ tới hồng danh ta trong khi cầu nguyện, thực hành, thì sẽ được giải thoát khỏi mọi hiểm nguy, nguyện cho mọi mong nguyện thế gian và xuất thế gian đều được viên mãn”. Ngài đã cầu nguyện để viên mãn bản thệ đó, Ngài đã dành trọn sự thực hành để hồi hướng cho tâm nguyện đó. Ở đây tôi muốn nói đến thệ nguyện của ngài, đức Tara là bổn tôn của Kim Cang Thừa, không phải bổn tôn của Tịnh Độ, tuy nhiên khi tìm hiểu về các điển tích của ngài đều nói về việc nghe, nhớ đến hồng danh ngài và cầu nguyện giải thoát lên ngài thì sẽ được viên mãn mọi mong nguyện. Vậy ở đây, việc trì niệm hồng danh của Tara tuy không có trong truyền thống Kim Cang Thừa nhưng dựa vào thệ nguyện của ngài, ta có thể hành trì niệm danh hiệu ngài kết hợp với việc tán thán 21 độ mẫu và trì tụng thần chú để cầu nguyện sẽ dễ dàng được viên mãn y như bản thệ ngài đã phát nguyện.
Về bài tán thán Tara, đạo sư của tôi từng dạy rằng: vì thệ nguyện của độ mẫu Tara chủ về hành động và viên mãn mọi mong cầu chúng sinh cho nên nếu bất kỳ ai trong 2 thời sáng từ khoảng 4h có thể đọc bài tán thán 21 độ mẫu 12 lần và trì chú của ngài, chiều từ 17h có thể hành trì 1 lượt 12 lần tán thán và trì chú của ngài rồi cầu nguyện 1 tâm nguyện nào đó thì sau 100 ngày liên tục cái năng lượng đó đủ mạnh để biến ước nguyện thành hiện thực, đạo sư còn đùa rằng thậm chí cái năng lượng đó đủ mạnh để các con cầu nguyện để giết chết 1 ai đó có lẽ ngài cũng sẽ làm. Nhưng tất nhiên, chúng ta có lòng từ bi sẽ không làm như thế.
Về thần chú của ngài, chúng ta vẫn hay hành trì câu chú 10 chữ căn bản:
Om ta rê tut ta rê tu rê sô ha
Tôi sẽ chỉ dẫn cho các bạn 1 phương pháp đưa trực tiếp mong muốn của bạn vào thần chú để dẫn truyền viên mãn mọi mong cầu.
Công thức như sau:
Om ta rê tut ta rê tu rê ........ soa ha
Ví dụ:
1. om tare tut ta rê tu rê "diệt trừ oan gia và kẻ thù" soa ha
2. Om ta rê tut ta rê tu rê "tăng trưởng trí tuệ" soa ha
3. Om ta rê tut ta rê tu rê "giác ngộ tính không" soa ha
4. Om ta rê tut ta rê tu rê "diệt trừ phiền não" soa ha
5. Om ta rê tut ta rê tu rê "hãy ban cho con sự giàu có" soa ha
Trên đây là 1 vài ví dụ cho công thức trên, bạn có thể thay chỗ "...." bằng tâm nguyện bạn mong muốn có được. Với công thức này, bạn có thể thành tựu các mong nguyện thế gian cho đến xuất thế gian.
Tất nhiên bạn sẽ phải hành trì ít nhất 10 chuỗi (tương đương 1080 lần) liên tục mỗi ngày. 100 ngày chỉ là với những mong nguyện thế gian khả năng có thể thực hiện được. Còn với những ước nguyện lớn hơn sẽ cần nhiều thời gian nhiều hơn để hoàn thành, phụ thuộc vào công đức của bạn có được bao nhiêu nữa, nên hành trì kết hợp chú "om mani padme hum" để tích tập công đức nhanh chóng, chú trăm âm để diệt trừ bớt đi nghiệp chướng đang cản trở làm chướng ngại cho bạn và kết hợp cùng công thức này để công đức bạn gieo trồng luôn tăng trưởng để biến ước nguyện bạn đang gieo trồng bằng thần chú tara sớm viên mãn thành hiện thực. Đây là cách để bạn gửi thông điệp cầu nguyện trực tiếp lên độ mẫu Tara vào mỗi câu thần chú thay vì phải hành trì xong nghi quỹ, trì tụng thần chú xong bạn mới cầu nguyện được 1 lần cho cả 1 lần hành trì.
Về thời điểm thực hành pháp tùy vào mỗi mục đích mong nguyện khác nhau mà sẽ hành trì vào các giai đoạn của chu kỳ mặt trăng khác nhau trong tháng:
- Nếu sử dụng vào mục đích tức tai, bạn nên bắt đầu hành trì từ ngày m1
- Nếu sử dụng vào mục đích tăng ích, bạn nên bắt đầu từ ngày m8,
- Nếu sử dụng vào mục đích kính ái, bạn nên bắt đầu từ ngày 16,
- Nếu sử dụng vào mục đích hàng phục, bạn nên bắt đầu từ ngày 23.
Bạn nên lập 1 bảng tính túc số mỗi ngày và sau mỗi lần hành trì sẽ ghi vào đó. Đủ 100 ngày từ ngày hành pháp trở đi, các tháng trở về sau bạn có thể hành trì theo các khoảng thời gian nhất định trong tháng để hành pháp duy trì năng lượng gia trì. Vd sau 100 ngày các pháp tức tai sẽ hành trì từ ngày m1- m8, các pháp tăng ích sẽ chỉ hành trì từ ngày m8- ngày 15 âm, các pháp kính ái sẽ hành trì từ ngày 16 - ngày 23 âm, các pháp hàng phục sẽ hành trì từ ngày 23 đến hết tháng (tùy mỗi tháng 29/30 ngày)
Trong hình tướng của Tara, trên tay ngài luôn trì giữ nhánh hoa sen xanh - hoa utpala, loài hoa này chỉ nở vào ban đêm với ý nghĩa xua tan đi mọi sợ hãi trong màn đêm tăm tối. Tuy nhiên, loài hoa này nơi chúng ta không có. Vì vậy 1 cách cúng dường lên ngài với ý nghĩa về loài hoa này là bạn có thể mua nến hoa sen màu xanh tượng trưng và thắp sáng lên khi hành trì pháp của ngài, ánh sáng này có ý nghĩa giúp bạn xua tan đi sợ hãi chướng ngại vượt qua bóng tối như ý nghĩa của hoa utpala vậy.
Ngoài công thức trên, tôi có thể nêu ra 1 vài công thức do các đạo sư tây tạng truyền dạy lại. Các công thức này đều xuất khởi bắt nguồn từ câu thần chú gốc, chỉ khác về tiếng địa phương: của ng Tạng dùng tiếng Tạng, của ng Việt thì dùng tiếng Việt cho tâm thức dễ dàng thu nhận.
1. Định thức thứ nhất:
Om - Täre Tuttare Ture - Sarva...... śāntim Kuru - Svāhā
(Sarva có nghĩa là khiến cho...., santim kuru có ý nghĩa trừ tai nạn/chướng ngại - bảo mệnh hộ thân, chủ về phòng trừ)
Trừ Quỷ Thần: Om - Tare Tuttare Ture - Sarva grahān śāntim Kuru - Svāhā.
Trừ chướng nạn: Om - Täre Tuttare Ture - Sarva vighnän śāntim Kuru - Svāhā.
Trừ bệnh tật truyền nhiễm : Om – Täre Tuttāre Ture - Sarva vyādhīn śāntim Kuru - Svāhā.
Trừ nhiệt bệnh: Om - Täre Tuttare Ture - Sarva jvarān śāntim Kuru Svāhā.
Trừ bệnh hoạn: Om - Täre Tuttare Ture - Sarva rogān śāntim Kuru
- Trừ phiền não: Om - Täre Tuttare Ture - Sarva upadravān śāntim Kuru - Svāhā.
Svāhā. Trừ sự chết yểu phi thời: Om – Tăre Tuttare Ture - Sarva akāla-mrtyün śāntim Kuru - Svāhā.
Trừ giấc mơ xấu: Om – Täre Tuttare Ture - Sarva duşvapanān śāntim Kuru - Svāhā.
Trừ sự Bất Tường: Om – Tăre Tuttare Ture - Sarva durni mittāni śāntim Kuru - Svāhā.
Trừ sự lầm lẫn: Om - Täre Tuttare Ture - Sarva cittā kulāni śāntim Kuru - Svāhā.
2 Định thức thứ hai:
Om - Tare Tuttare Ture - Sarva...........Rakşam Kuru - Svāhā
(Raksam kuru cũng có ý nghĩa là trừ tai nạn, tuy nhiên khác với santim kuru, raksam mang nghĩa về diệt trừ, hàng phục, ví dụ ai đang gặp nạn quan tư thị phi dùng cái này diệt trừ họa ách đập tan thị phi cũng được)
Trừ oan gia và kẻ thù: Om – Täre Tuttare Ture - Sarva śatrübhyo Rakşam Kuru - Svāhā
Trừ chất độc, các loại độc: Om Rakşam Kuru - Svāhā Täre Tuttare Ture - Sarva vişebhyo
Trừ Chú Trớ Yểm Đảo: Om Täre Tuttare Ture Sarva krtyā-kākhordebhyo Rakşam Kuru - Svāhā
Trừ binh trận: Om - Tare Tuttare Ture - Sarva yudhebhyo Rakşam Kuru - Svāhā
Trừ sự phiền não tai nạn: Om Täre Tuttare Ture Sarva bhaya upadrvaebhyo Rakşam Kuru - Svāhā
Trừ hành động xấu ác: Om Tare Tuttare Ture Sarva duşkrtebhyo Rakşam Kuru - Svāhā
3 Định thức thứ ba:
Om - Tare Tuttare Ture .......Svāhā.
(Định thức này có thể được sử dụng cho tất cả mục đích như tức tai, tăng ích, kính ái, hàng phục)
Om - Täre Tuttare Ture - Sarva bhaya vimocana - Rāja, caura, Agni, Vişa, Udaka bhayāni praśamaya - Svāhā.
(Om Tare Tuttāre Ture – Vượt thoát mọi sự sợ hãi, chận đứng, tiêu diệt sự sợ hãi
về: vua chúa, trộm cướp, lửa, thuốc độc, nước - Svāhā)
Om - Tare Tuttare Ture - Sarva bandhana - Tadana - Rāja, Taskara, Agni, Udaka, Vişa śastrāni parimocaka - Svāhā.
(Om Tāre Tuttāre Ture – Vượt thoát mọi sự trói buộc, sự đánh đập, vua chúa, trộm cướp, lửa, nước, thuốc độc, dao gậy - Svāhā)
Om - Täre Tuttare Ture - Sarva pāpam Avaraņa viśuddhe - Svāhā.
(Om Tāre Tuttāre Ture – Tinh lọc hoàn toàn mọi tội lỗi và chướng ngại – Svāhā)
Om - Täre Tuttare Ture mama dhana sarva cora bandha Svāhā
(Om Tare Tuttāre Ture _Cột trói tất cả giặc cướp của cải của tôi _ Svāhā)
Om - Täre Tuttāre Ture Asmān apakāra sarva cora bandha Svāhā
(Om Tāre Tuttāre Ture Cột trói tất cả trộm cướp, kẻ gây ra thiệt hại cho chúng tôi _ Svāhā)
Om - Tare Tuttare Ture_Dhanam me Dehi - Svāhā
(Om Tāre Tuttare Ture - Hãy ban cho tôi sự giàu có - Svāhā)
4 Đình thức thứ tư:
Om - Tare Tuttare Ture ...... Puşţim Kuru - Svāhā.
(Pustim kuru có ý nghĩa là sở cầu như ý, dùng vào các mục đích tăng ích, chiêu tài)
Tăng trưởng Thọ Mệnh, Phước Đức, Trí Tuệ: Om – Tăre Tuttare Ture - Mama Ayuh punye jñāna Puşțim Kuru - Svāhā. (Câu này chính là của bổn tôn Tara trắng)
Tăng trưởng năng lực Công Đức: Om – Tăre Tuttare Ture -punya Puşțim Kuru - Svāhā.
Tăng trưởng Trí Tuệ: Om – Täre Tuttare Ture -Prajña Puşțim Kuru Svāhā.
Về công thức thần chú của ngài có công thức như sau:
Om zam ba la za len đa yê......(mong nguyện) soa ha
Ví dụ:
1. Om zam ba la za len đa yê "giàu có thịnh vượng" soa ha
2. Om zam ba la za len đa yê "công việc thu nhập cao"soa ha
3. Om zam ba la za len đa yê "trúng số độc đắc" soa ha
4. Om zam ba la za len đa yê "thu nhập 100 triệu mỗi tháng" soa ha
Một công thức khác từng được một đạo hữu chia sẻ là :
Om yak sa zam ba la za len đa yê mani......(mong nguyện) soa ha
(Yak sa nghĩa là Dạ xoa, ám chỉ ngài là vua của chúng Dạ Xoa, Mani là viên ngọc báu như ý)
Đã từng có 1 vài đạo hữu học theo công thức này để trúng số độc đắc, hành trì liên tục mới chỉ trong 2 tuần thì họ đã trúng số liên tục, tuy không phải số độc đắc nhưng cũng đã giúp họ gặp may mắn rất nhiều, huống chi là 100 ngày trở lên
Mỗi ngày hành trì 1080 thần chú. Sau 100 ngày sẽ thấy tài lộc, thu nhập của bạn được cải thiện rất nhiều. Tùy vào mong nguyện bạn đưa vào thần chú sẽ giúp bạn từng bước được thỏa mãn mong cầu đó. Tuy nhiên, đừng quên bố thí học cách xả tài, có vậy thì tài bảo bạn kiếm được mới bền vững và càng ngày càng sung túc đủ đầy.
Tương tự như 2 bổn tôn trên, thần chú của Chuẩn Đề Phật Mẫu cũng sẽ giúp viên mãn mọi mong cầu với công thức sau:
Om cha lê chu lê chun đê..... soa ha
Đây là công thức chung cho các pháp về tức tai, tăng ích, kính ái, hàng phục. Ngoài ra các bạn có thể áp dụng như theo pháp của Tara:
1. Tức Tai:
OṂ_ CALE CULE CUṄDHE (Khiến cho…) ŚĀNTIṂ KURU _ SVĀHĀ
2. Tăng ích:
OṂ_ CALE CULE CUṄDHE (Khiến cho….) PUṢṬIṂ KURU _ SVĀHĀ
3. Kính ái:
OṂ_ CALE CULE CUṄDHE ( Khiến cho…. ) VAŚI KURU _ SVĀHĀ
(Vasi kuru là nhiếp triệu ai đó thành tựu mong cầu của mình, bạn có thể nhiếp triệu vị thần nào đó hoặc nhiếp tâm 1 người nào đó có duyên với bạn mà bạn muốn thu hút, như crush, người bạn thương hoặc có thể muốn thân thiết với 1 người nào đó như bạn bè, đồng nghiệp, cấp trên,....)
4. Hàng phục:
OṂ_ CALE CULE CUṄDHE HŪṂ PHAṬ
(Hum phat được dùng trong các câu chú về hàng phục, vd kẻ thù, oan gia,...tuy nhiên không nên sử dụng định thức này nếu chưa được thọ các pháp về phẫn nộ, giáng phục)
Và tôi vẫn khuyên dùng câu chú căn bản để dễ truyền tải hơn thay vì sử dụng các định thức riêng biệt theo từng mục đích khác nhau.
Nếu các bạn tìm hiểu về tự kỷ ám thị sẽ hiểu việc lặp đi lặp lại 1 ý muốn bất kỳ bằng lời nói mỗi ngày sẽ hấp thụ nó xuống dưới phần tiềm thức và khiến tiềm thức hoạt động, 1 khi tiềm thức hoạt động thì tần số năng lượng sẽ được nâng cao để đạt được điều tương đồng đúng với ý muốn bạn phát ra, giống như bạn truyền tải thông điệp vào vũ trụ và đón nhận lại sự phản hồi của vũ trụ trở ngược lại bạn. Thì sự vận hành của các thần chú cũng vậy, tuy nhiên ở đây chúng ta không chỉ có sự giúp sức của vũ trụ mà còn có cả tha lực của chư Phật hỗ trợ giúp bạn đạt được điều bạn muốn, thần chú ấy được thuyết ra từ tâm của chư Phật sẽ càng mạnh mẽ hơn vì nó mang theo cả những hạnh nguyện thành tựu của các ngài. Não bộ chúng ta là tổng thể không gian đa chiều, để từng bước mở ra các chiều không gian này thì ý thức của chúng ta phải được học và tiếp thu đầy đủ tri thức để đủ năng lực mở khóa từng chiều không gian trong tiềm thức. Thậm chí tiềm thức nó hiểu được tất cả các loại ngôn ngữ dù ý thức của bạn không hề được học. Đó cũng là 1 bí mật về việc tạo lập và hình thành các hóa thân...nếu bạn nắm giữ được các chìa khóa này, bạn sẽ có khả năng tu luyện để trở thành các hóa thân Phật, tự thân bạn sẽ có gia trì của chư Phật, bạn có thể trở thành hóa thân của Tara, Quan Âm,... hay bất kỳ vị nào bạn tôn thờ.. Tôi đang trong quá trình nghiên cứu thử nghiệm về loại công thức mới để khai mở các chiều không gian này, bạn của tôi đã từng có người áp dụng và tự thân họ có phép thuật, họ không thực hành tu luyện phép thuật ngày nào nhưng nhờ phương pháp này họ biết dịch chuyển tức thời ngay trong 1 khoảnh khắc, vì đang trong quá trình thử nghiệm nên tôi sẽ không công khai. Viết đến đây có lẽ dài rồi, chúc các bạn ngày mới vui vẻ, cám ơn đã quan tâm theo dõi.

















