Luật Gia. Liz Quiehui có tên thật là Hoàng Quốc Huy, tên phiên âm là Lý Thu Tuệ

Blog

Main Ad ➤ Click "VÀO ĐÂY" Doanh nhân và Thương hiệu ASEAN luôn cập nhật

Mùa Xuân, Những Điều Nhất Định Không Nên Làm!


Lời Cổ Nhân Dạy
Người xưa có câu:
“Khuyên người chớ ăn cá diếc tháng Ba,
Vạn ngàn cá con đang trong bụng mẹ.
Khuyên người chớ săn chim xuân,
Chim non trong tổ đợi mẹ về.
Khuyên người chớ ăn ếch mùa xuân,
Trăm ngàn sinh mệnh còn trong bụng.”


“Khuyên người chớ săn chim xuân, chim non trong tổ đợi mẹ về.” – Mùa xuân không được săn bắn chim, vì chim non còn đang chờ mẹ về mớm mồi. Nếu chim mẹ bị giết, chim con sẽ chết đói trong tổ, vô cùng thảm thương. “Khuyên người chớ ăn ếch mùa xuân, trăm ngàn sinh mệnh còn trong bụng” và “Khuyên người chớ ăn cá diếc tháng Ba, vạn ngàn cá con đang trong bụng mẹ” cũng mang ý nghĩa tương tự. Mùa xuân là thời điểm sinh sôi, nếu giết một sinh mệnh tức là giết đi hàng ngàn, hàng vạn sinh mệnh.
Mùa xuân, sinh mà không sát, ban mà không đoạt, thưởng mà không phạt.
Nguyên lý “Thiên nhân hợp nhất” trong văn hóa Việt Nam có liên hệ mật thiết với quy luật tự nhiên. Yêu thương trời đất, hành thiện giữa nhân gian; tình yêu thương là sự bảo hộ từ bi, là lòng bố thí vô lượng.
Quan Niệm Vạn Vật Bình Đẳng Trong Đạo Gia
Trong các học thuyết thời Tiên Tần, chỉ riêng Đạo gia có quan điểm khác biệt. Dựa trên tư tưởng “Đạo” của Lão Tử, “Đại Đạo” đối đãi vạn vật một cách công bằng. Đạo gia cũng cho rằng, con người chỉ là một phần bình thường của vạn vật, không hề cao quý hơn vạn vật khác. Do đó, con người không phải trung tâm của trời đất, mà giữa người và vạn vật đều bình đẳng. Quan niệm này đối lập với tư tưởng của Nho gia, vốn cho rằng con người cao quý hơn muôn loài. Đây là sự khác biệt lớn giữa Nho và Đạo trong việc định vị con người giữa trời đất, phản ánh hai thái độ khác nhau của triết học cổ đại đối với mối quan hệ giữa con người và tự nhiên.
Lão Tử tuy ít bàn trực tiếp về cách con người nên đối đãi với vạn vật, nhưng từ nguyên lý “Đạo pháp tự nhiên”, có thể thấy rõ rằng vạn vật trước “Đại Đạo” đều bình đẳng, con người không hề vượt trội hơn vạn vật. Quan điểm này được kế thừa và phát triển trong tư tưởng của Trang Tử:
“Lấy Đạo mà nhìn thì vạn vật không có cao thấp quý tiện.”
Đạo gia cho rằng sinh mệnh con người đến từ tự nhiên, con người là một phần của sự sống trong tự nhiên, nên cần sống hòa hợp với tự nhiên, duy trì sự cân bằng và an bình của toàn bộ thế giới tự nhiên. Đạo gia khuyên răn con người tuân theo quy luật tự nhiên, bảo vệ môi trường, tiết kiệm tài nguyên, duy trì cân bằng sinh thái, vì đó là nền tảng thiết yếu cho sự tồn tại và phát triển bền vững của nhân loại.
Theo Đạo gia:
“Mọi sinh linh hữu tình, dù là súc vật, cây cối hay đá sỏi, đều có Đạo tính.”
Mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên là sự hòa hợp mật thiết, vạn vật đều do Đạo sinh hóa biến đổi mà thành, không hề có sự phân biệt cao thấp quý tiện. Chỉ khi con người thuận theo tự nhiên thì vạn vật mới có thể cùng sinh cùng vinh, thế giới mới có thể phát triển hài hòa.
Trong Trang Tử, có câu:
“Lấy Đạo mà nhìn, vạn vật không có cao thấp.
Lấy vật mà nhìn, mỗi vật đều tự cho mình là quý, còn vật khác là tiện.”
Kinh điển Đạo gia như Tây Thăng Kinh dạy rằng:
“Đạo không chỉ thuộc về riêng ta, vạn vật đều có Đạo.”
Đạo sĩ Thành Huyền Anh thời Đường nói:
“Đại Đạo tự nhiên, tạo vật đều bình đẳng.”
Thái Bình Kinh viết:
“Trời đất và ta cùng một cội rễ, vạn vật và ta cùng một thể.”
Đạo gia còn cho rằng, vì nhất nguyên khí của vũ trụ tồn tại trong mọi sự vận hành của tự nhiên, nên vạn vật cũng có linh tính như con người. Tổ sư Cát Hồng từng nói:
“Núi sông, cây cỏ, giếng nước, bếp lò đều có tinh khí. Con người có hồn phách, huống hồ là vạn vật to lớn trong trời đất, lẽ nào lại không có linh khí?”
Điều này cũng giống như lời kinh Đạo giáo:
“Khí có tất có tinh, tinh cực tất có linh, linh cực tất có thần.”
Bảo Vệ Tự Nhiên - Triết Lý Tu Đạo Của Đạo Gia
Từ xa xưa, Đạo gia luôn đề xướng lối sống “phản phác” (trở về sự giản dị nguyên sơ), “kiệm ước”, xem đó là cách bảo vệ môi trường và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên. Đối với người tu hành, Đạo gia càng nhấn mạnh việc hòa hợp với tự nhiên, không được tổn hại hay làm xáo trộn sinh linh trong thiên nhiên.
Lão Tử - vị tổ sư của Đạo gia, từng nói:
“Vạn vật quy về mà không làm chủ.” (Đạo Đức Kinh - chương 34)
Trang Tử cũng viết:
“Trời đất và ta cùng sinh, vạn vật và ta là một.” (Tề Vật Luận)
“Cùng vạn vật hợp thành một thể.” (Tiêu Dao Du)
“Thời đại đạo đức chân chính, con người cùng chung sống với muông thú, vạn vật cùng tồn tại.” (Mã Đề)
Kinh điển Đạo giáo như Thái Bình Kinh đề xướng tư tưởng:
“Trời đất hài hòa đồng tâm, cùng sinh dưỡng vạn vật.”
Tổ sư Cát Hồng cũng nhấn mạnh ý thức bình đẳng của vạn vật. Theo Đạo giáo, thông qua tu luyện, con người có thể đạt đến cảnh giới “trường sinh cửu thị” (sống lâu bền vững), thậm chí “nhục thể thành tiên” (thành tiên khi còn sống). Đây chính là cảnh giới hợp nhất với thiên nhiên, đạt đến sự hòa hợp tuyệt đối với vạn vật.
Trong Đạo giáo, “Từ” (lòng từ bi) đứng đầu trong Tam Bảo (Ba bảo vật quý giá trong Đạo Đức Kinh). Thái Thượng Lão Quân cho rằng:
“Trời muốn cứu vạn vật, dùng lòng từ bi để bảo hộ.”
Kinh điển Đạo giáo như Thái Thượng Động Chân Trí Tuệ Thượng Phẩm Đại Giới dạy rằng:
“Thường hành từ tâm, cứu độ muôn loài, phóng sinh giải nạn.”
Văn Độ Nhân Kinh viết:
“Đồng lòng từ ái, dù khác cốt cũng như ruột thịt; nước an dân giàu, thái bình vui vẻ.”
Đạo gia từ xưa đến nay luôn đề cao lòng nhân ái, phản đối việc sát sinh bừa bãi, xem đó là một phần trong sự tu dưỡng bản thân. Đạo giáo chủ trương vạn vật bình đẳng, chung sống hài hòa, cùng phát triển, vì con người cũng chỉ là một phần của vũ trụ, không có sự phân biệt cao thấp.
Phúc Sinh Vô Lượng Thiên Tôn!
Share:

Tìm hiểu về giáo lý, luật lệ, lễ nghi của đạo Cao Đài

 Đạo Cao Đài là một tôn giáo nội sinh, xuất hiện năm 1926 ở Nam Bộ, tín đồ chủ yếu là nông dân; sự ra đời của đạo Cao Đài là một tất yếu khách quan nó phản ánh thực trạng xã hội lúc bấy giờ, và sự bế tắc về tư tưởng, sự suy thoái của các tôn giáo, đạo lý đương thời.



Tín đồ đạo Cao Đài dự lễ. Nguồn Internet
Về giáo lý căn bản, đạo Cao Đài cho rằng vũ trụ là vô cùng vô tận bao gồm cả không gian và thời gian. Không gian là vô cực trong đó có Âm và Dương, dần dần ngưng kết với nhau hình thành Thái cực. Thái cực chính là Ngôi Chúa Tể của càn khôn vũ trụ. Thái cực biến hóa vô cùng, vô tận sinh hóa ra muôn loài, muôn vật. Đạo Cao Đài thờ Thượng đế bằng hình con mắt trái – Thiên nhãn có nghĩa là “mắt trời” là thần lực của vũ trụ, nhìn thấu suốt thế gian.
Đạo Cao Đài cho rằng con người là tiểu vũ trụ. Con người có phần hồn và phần xác, Thượng đế ban cho mỗi người một linh hồn (gọi là Điểm Linh quang) mượn lấy xác phàm để xuống thế gian rèn luyện, thử thách. Đạo Cao Đài quan niệm thế gian là một trường học và là nơi lập công bồi đức, để không ngừng tiến hóa. Cuộc sống của con người là quá trình hoàn thành những nấc thang tiến hóa cao nhất của vạn vật nhằm đi đến sự hòa hợp với vũ trụ.
Khi con người chết đi thì linh hồn vẫn tồn tại và tiếp tục luân hồi để sống vào kiếp khác, con người tiến hóa là do linh hồn tiến hóa. Vì vậy nếu tu luyện tốt, có nhiều công đức tại thế sẽ được về cõi Bạch Ngọc kinh (Thiên đàng), nếu có nhiều tội lỗi thì vướng mãi trong kiếp luân hồi sinh tử. Tuy vậy, đạo Cao Đài đưa ra khái niệm đại ân xá Kỳ ba nghĩa là người có tâm cầu đạo dù chưa đắc quả tại thế, sau khi chết sẽ được ân xá tiếp tục tu luyện ở cõi vô hình cho đến khi đắc vị, khỏi luân hồi.
Tôn chỉ của đạo Cao Đài là: “Tam giáo quy nguyên, Ngũ chi hiệp nhất” nhằm mục đích phục hưng chân truyền, đây là đường lối căn bản cho nhân sinh tu hành.
Tam giáo quy nguyên là thực hiện tôn chỉ của ba tôn giáo lớn (Phật, Nho, Lão) là Từ bi – Công bằng – Bác ái.
Ngũ chi hiệp nhất là thống nhất 5 ngành đạo (nhân đạo của Khổng tử, Thần đạo của Khương Tử Nha, Thánh đạo của Jesu, Tiên đạo của Lão Tử, Phật đạo của Thích Ca) thể hiện năm trình độ chuyển hóa, tu tiến để đi đến giải thoát một cách toàn diện.
Đạo Cao Đài cho rằng từ khi có loài người, Thượng đế đã ba lần cứu rỗi: lần thứ nhất vào thời thượng cổ do các đấng Phục Hi, Moi – sen làm giáo chủ; lần thứ hai do các đấng Thích ca, Lão Tử, Khổng Tử, Giê - su- Ki – tô, Mô - ha – mét làm giáo chủ; lần thứ ba do đức Thượng đế lập ra và trực tiếp làm giáo chủ trên tinh thần “tam giáo quy nguyên”, “vạn giáo nhất lí”, và hiệp nhất Ngũ chi.
Giáo lý của đạo Cao Đài đề cao tính thiêng liêng, sự huyền diệu của cơ bút, coi đó là phương tiện để con người liên hệ với Thượng đế.
Về luật lệ, lễ nghi, đạo Cao Đài thực hiện theo Ngũ giới cấm và Tứ đại điều quy.
Ngũ giới cấm là không sát hại sinh vật; không trộm cắp, lừa gạt người; cấm tà dâm; cấm uống rượu thịt, ăn uống quá độ; cấm xảo trá, nói năng không giữ lời hứa.
Tứ đại điều quy là tuân theo lời dạy của bề trên, lấy lễ hòa người; chớ khoe tài, đừng cao ngạo; tiền bạc phân minh; trước mặt sau lưng cũng đồng một bực.
Đạo phục chức sắc Cửu Trùng đài: từ phẩm giáo tông, chưởng pháp, đầu sư, phối sư, giáo sư gồm 2 bộ đại phục và tiểu phục. Đại phục mặc vào những ngày đại lễ, có màu sắc theo phái (Thái màu vàng - Thượng màu xanh - Ngọc màu đỏ), đầu đội mũ bát quái tùy theo phẩm trật. Tiểu phục cũng may như đại phục nhưng đầu nhưng đầu đội khăn đóng có 9 lớp.
Về đạo phục nữ phái mặc áo trắng và đội mũ theo phẩm trật.
Lễ nghi đạo Cao Đài khá cầu kì, phức tạp thể hiện tinh thần tam giáo đồng nguyên. Kinh của đạo Cao Đài đọc theo giọng nam ai, nam xuân và có Ban nhạc lễ.
Người tu theo đạo Cao Đài chia thành 3 bậc thực hiện việc giữ giới khác nhau: Hạ thừa, Trung thừa, Thượng thừa.
Hạ thừa là những người (thường là tín đồ) tu tại gia, tuân thủ Ngũ giới cấm, Tứ đại điều quy, Thế luật của đạo, ăn chay lục trai hoặc thập trai.
Trung thừa là những người (thường là phẩm lễ sanh) tuân thủ như bậc hạ thừa nhưng vừa duy trì cuộc sống sinh hoạt gia đình (tại gia) vừa xuất gia tu học tại các Thánh thất hoặc trung tâm Tòa thánh, ăn chay từ 15 ngày trở lên (nửa tại gia, nửa xuất gia).
Thượng thừa là những người (thường là chức sắc từ phẩm giáo hữu trở lên) thực hiện “cắt ái ly gia” hiến thân trọn đời cho đạo, ăn chay trường, luyện đạo, tu hành tại các thánh thất và Tòa thánh.
Đạo Cao Đài có một số ngày đại lễ trong năm theo âm lịch như ngày 09 tháng Giêng lễ vía Đức Chí Tôn, ngày 15/8 lễ vía Diêu Trì Kim Mẫu, ngày 15/10 lễ kỷ niệm khai đạo,… từng hệ phái có ngày lễ kỷ niệm riêng. Hàng ngày có 4 khóa lễ vào các giờ: Tý, Ngọ, Mão, Dậu.
Share:

Đạo Giáo Bát Đại Thần Chú

 Bát Đại Thần Chú là bộ thần chú thường dùng tụng hằng ngày trong nghi lễ của chư Đạo sĩ của Đạo giáo, có tác dụng gột rửa tiêu trừ các tội nghiệt trong thân - tâm, hộ vệ tâm thần, triệu thỉnh Thần minh hộ trì, hoặc khi khai kinh diễn thuyết Đại đạo thời trì tụng, chánh là hạch tâm thần chú, là những thần chú cơ bổn của người sơ tu đạo phải học, tựa như khai đàng công phu của Phật giáo. Bát Đại Thần Chú gồm:


1. Tịnh Tâm Thần Chú:
"Thái Thượng Đài Tinh, ứng biến vô đình,
Khu tà phược mị, bảo mệnh hộ thân,
Trí huệ minh tịnh, tâm thần an ninh,
Tam hồn vĩnh cửu, phách vô táng khuynh."

Tác dụng: Tịnh Tâm Thần Chú là thần chú đứng đầu trong Bát Thần, ý ngỡi của nó là giúp cho người tu đạo học tập hoặc trong lúc tôi luyện phù pháp được tịnh hóa thể xác và tinh thần, bài trừ tạp niệm, yên ổn thân tâm lúc tu tập. Chú này giúp cho phàm tâm nhập thanh tịnh, không bị xáo động, giúp cho hồn phách được bửu đảm.

2. Tịnh Khẩu Thần Chú:
"Đơn Châu Khẩu Thần, thổ uế trừ phân.
Thiệt thần Chánh Luân, thông mệnh dưỡng thần,
La Thiên Xỉ thần, khước tà vệ chân.
Hầu thần Hổ Bí, khí thần dẫn tân.
Tâm thần Đơn Ngươn, lệnh ngã thông chân.
Tư thần luyện dịch, đạo khí thường tồn."

Tác dụng: Tịnh Khẩu Thần Chú chứa hai tầng chơn ý. Thứ nhứt là: Nhơn sinh nếu lún quá sâu vào thế tục, khó tránh khỏi báng kinh hủy đạo, miệng lưỡi trần tục, thường hay nói xấu người khác. Cũng có thế nhơn không tin quỷ thần, chửi trời mắng đất, miệng lưỡi tanh tưởi. Này đều là "khẩu nghiệp".
Thứ hai là: Ở trần tục, tam huân ngũ tinh khó tránh khỏi tị húy. Khẩu khí tanh đàn mùi thối. Tụng kinh luận pháp, ô uế Tam Bữu. Cho nên phải thường tụng niệm Tịnh Khẩu Thần Chú giúp tiêu trừ khẩu nghiệp, khẩn mời Chánh Thần giúp gột sạch uế khí trong miệng. Thanh tịnh miệng lưỡi có thể tụng kinh niệm chú, thông chơn đạt đạo.

3. Tịnh Thân Thần Chú:
"Linh Bảo Thiên Tôn, an ủy thân hình,
Đệ tử hồn phách, ngũ tạng huyền minh,
Thanh Long Bạch Hổ, đội trượng phân vân,
Châu Tước Huyền Võ, thị vệ ngã chơn."

Tác dụng: Tịnh Thân Thần Chú có thể luyện hóa cơ thể hành giả thể nạp tứ chánh chi thần, quay về chánh vị. Tiêu trừ thân nghiệp, ủng hộ thân hình, bảo vệ đạo thể. Thân nghiệp, chánh là các nghiệp sát sanh, trộm cắp, dâm tà,...chư đẳng tội. Làm cho thân thể hành giả tu đạo được thanh tịnh, thân thể thanh tịnh thời mới có thể cảm chiếu với thần linh.

4. An Thổ Địa Thần Chú:
"Nguyên Thủy an trấn, phổ cáo vạn linh.
Nhạc độc chơn quan, Thổ Địa chi linh.
Tả xã hữu tắc, bất đắc vong kinh.
Hồi hướng chánh đạo, nội ngoại trừng thanh.
Các an phương vị, bị thủ đàn đình.
Thái Thượng hữu mệnh, sảo bộ tà tinh.
Hộ Pháp Thần Vương, bảo vệ tụng kinh.
Quy y đại đạo, nguyên hanh lợi trinh."

Tác dụng: Chú này giúp cho khi kết đàn hành pháp, chiêu khiển Thổ Địa Sơn Thần, bởi vì giúp cho hành giả tấu cáo thượng thiên, bảo vệ chánh đạo thời sử dụng.

5. Kim Quang Thần Chú:
"Thiên Địa huyền tôn, vạn khí bổn căn.
Quảng tu ức kiếp, chứng ngô thần thông.
Tam giới nội ngoại, duy đạo độc tôn.
Thể hữu kim quang, phước yếng ngô thân.
Thị chi bất kiến, thính chi bất văn.
Bao la Thiên Địa, dưỡng dục quần sanh.
Thọ trì vạn biến, thân hữu quang minh.
Tam giới thị vệ, Ngũ Đế ti nghinh.
Vạn thần trào lễ, dịch sứ Lôi Đình.
Quỷ yêu táng đởm, tinh quái vong hình.
Nội hữu phích lịch, Lôi Thần ẩn danh.
Động huệ giao triệt, ngũ khí đằng đằng.
Kim Quang tốc hiện, phước hộ chơn nhơn."

Tác dụng: Kim Quang Thần Chú sử dụng tu luyện đạo thể chi tâm tánh vị chủ, chủ trương luyện nội thân Kim Quang Nguyên Thần để hộ thể, hàng phục ma quỷ, bảo vệ đạo pháp. Thần chú này, như con đường rộng rãi lênh đênh, uy lực cường đại. Là thần chú bí mật của đạo môn, phương pháp tu luyện xưa nay âm tàng bất lộ không truyền cho người ngoài. Các môn phái dùng để tu trì tế luyện các pháp, bất tận tương đồng. Dân gian đạo phái cũng có rất nhiều pháp bí mật liên quan đến chú này, hoặc sử dụng chú này để tế luyện Kim Quang làm phù lệnh. Hoặc dùng uy lực Kim Quang, nội luyện thành kim đơn, hoặc ngộ đạo tu chơn, Lôi Thần hộ vệ, hoặc gia trì pháp bửu, độn địa thâu thiên.

6. Tịnh Thiên Địa Thần Chú:
"Thiên Địa tự nhiên, uế khí phân tán.
Động trung huyền hư, huỳnh lãng Thái Nguyên.
Bát phương oai thần, sứ ngã tự nhiên.
Linh Bửu phù mệnh, phổ cáo Cửu Thiên.
Kiền la đáp na, động cương Thái Huyền.
Trảm yêu phược tà, độ nhơn (sát quỷ) vạn thiên.
Trung sơn thần chú, Nguyên Thủy ngọc văn.
Trì tụng nhất biến, khước bệnh diên niên.
Án hành Ngũ Nhạc, Bát Hải tri văn.
Ma Vương thúc thủ, thị vệ ngã hiên.
Hung uế tiêu tán, đạo khí thường tồn."

Tác dụng: Tịnh hóa từ trường, dứt ngừng bệnh tật lâu năm, buộc kết đạo dươn.

7. Chúc Hương Chú:
"Đạo do tâm học, tâm giả hương truyền.
Hương phần ngọc lô, tâm tồn đế tiền.
Chơn linh hạ phán, tiên bái lâm hiên.
Lệnh thần quan cáo, kính đạt Cửu Thiên."

Tác dụng: Thông thần

8. Huyền Uẩn Chú:
"Vân triện thái hư, hạo kiếp chi sơ.
Tác hà tác nhĩ, hoặc trầm hoặc phù.
Ngũ phương bồi hồi, nhứt trượng chi dư.
Thiên chơn huỳnh nhơn, án bút nãi thơ.
Dĩ diễn đồng chương, thứ thơ linh phù.
Nguyên Thủy hạ giáng, chơn văn đản phu.
Chiêu chiêu kỳ hữu, minh minh kỳ vô.
Trầm kha năng tự thuyên, trần lao nịch khả phù.
U minh tướng hữu lợi, do thị thăng tiên đô."

Tác dụng: Này thần chú, còn được gọi là "Khai Đàn Huyền Uẩn Chú", khi chuẩn bị khai đàn kinh thời phụng tụng chú này. "Huyền Uẩn", ý là chỉ trong kinh thơ tạng chứa huyền diệu thậm thâm nghĩa lý. Trong thời kinh tảo khóa của Linh Bửu phái có chú này, sau các tôn phái khác mới có sự tiếp thu phỏng theo, tuy nhiên có vài bổn thay đổi cả về ngôn từ lẫn ý nghĩa.

Phúc Sanh Vô Lượng Thiên Tôn!

Share:

Kẻ trì pháp tại gia sao được gọi Tỳ-kheo?

 Bấy giờ, có nhiều Sa-môn phát tâm cạo bỏ râu tóc, ôm bát khất thực, sống đời du hành. Nhìn sang Tăng đoàn của Đức Phật, họ thấy mình khá giống liền nghĩ rằng, kia là Tỳ-kheo thì ta đây cũng là Tỳ-kheo; cũng là Sa-môn Thích tử.



Đức Phật nhiều lần lên tiếng trước hiện tượng này. Ngài ví dụ như con cừu đi theo đàn bò liền nghĩ mình cũng là bò, thực chất thì hình dáng và tiếng kêu đều khác. Đức Phật xác định, không cứ ôm bình bát đi xin ăn thì gọi Tỳ-kheo. Họ còn thuận theo thế tục, chưa tiếp nhận giáo pháp xuất thế thì không thể gọi là Tỳ-kheo.

“Một thời, Đức Phật ở tại vườn Cấp Cô Độc, cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ vào buổi sáng sớm, Đức Thế Tôn đắp y cầm bát vào thành Xá-vệ khất thực. Lúc ấy có một Bà-la-môn tuổi già sức yếu, chống gậy cầm bát đi khất thực từng nhà. Bà-la-môn này từ xa nhìn thấy Đức Thế Tôn liền tự nghĩ: ‘Sa-môn Cù-đàm chống gậy bưng bát, đi khất thực từng nhà. Ta cũng chống gậy ôm bát đi khất thực từng nhà. Ta cùng Cù-đàm đều là Tỳ-kheo’.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói kệ để trả lời:

Được gọi là Tỳ-kheo

Chẳng chỉ vì khất thực

Kẻ trì pháp tại gia

Sao được gọi Tỳ-kheo?

Đã lìa dục tai hại

Tu tập các chánh hạnh

Tâm mình không sợ hãi

Đó gọi là Tỳ-kheo.

Phật nói kinh này xong, Bà-la-môn kia nghe những gì Đức Phật đã dạy, tùy hỷ hoan hỷ làm lễ cáo lui”.

(Kinh Tạp A-hàm, quyển 4, kinh số 97. Khất thực)

Pháp thoại đã chỉ ra rằng, nếu tự cạo đầu, quấn y, ôm bát khất thực, du hành lang thang, tuy có hình thức khác tục nhưng không phải sư hay thầy, chính xác là không phải Tỳ-kheo. Mỗi cá nhân đã không là Tỳ-kheo thì số đông họ nhóm họp lại cũng không thể gọi là Tăng đoàn (Sangha, bốn vị Tỳ-kheo trở lên tu học theo Chánh pháp, thanh tịnh và hòa hợp).

Tỳ-kheo là người xuất gia, tu học với một vị thầy hoặc Tăng đoàn, được Tăng đoàn truyền giới (250 hoặc 227 giới) đúng Pháp và Luật. Vị Tỳ-kheo dù độc cư hay sống chung đều phải thuộc một Tăng đoàn, ít nhất là cùng Tăng đoàn tham dự bố-tát, tụng giới hàng mỗi nửa tháng; nhận sự giáo huấn của vị trưởng thượng trong Tăng đoàn ấy. Vị Tỳ-kheo hàng ngày ôm bát khất thực, bên ngoài đầy đủ oai nghi chánh hạnh, bên trong chuyên tu tập giới định tuệ, nỗ lực đoạn trừ tham sân si.

Việc có người tự nhận là Tỳ-kheo, trong khi không được trao truyền giới luật cũng như thực hành giáo pháp xuất thế đã có từ thời Thế Tôn. Theo dòng lịch sử, vì nhiều lý do khác nhau, hạng Sa-môn này thời nào và xứ sở nào cũng có. Ngày nay, ở Việt Nam, hiện tượng này được truyền thông mạng tung hô rầm rộ cũng không phải là chuyện lạ.

Vẫn biết giáo pháp của Thế Tôn là tài sản của nhân loại, mọi người đều có quyền tập học và thực hành để mang đến điều tốt đẹp. Không nhất thiết là Phật tử, ai cũng có thể tu học theo nhưng tự nhận Tỳ-kheo, lạm xưng Tăng đoàn là không được và không nên. Đạo pháp có thể bị phá hoại, niềm tin của tín đồ có thể bị thối thất, người bên ngoài dễ ngộ nhận, nếu Phật tử chúng ta không có giải pháp phù hợp, kiên quyết với các trường hợp lạm xưng này. Hàng đệ tử Phật nói chung và những vị có trách nhiệm thuộc Giáo hội nói riêng cần phải mạnh mẽ minh định điều này để bảo vệ Chánh pháp.

Share:

ĐI NHÉ CON !

 ĐI NHÉ CON !

Bây giờ con phải xa ta
Chia tay buồn bã, xót xa, nghẹn ngào
Nhà mình thiếu trước , hụt sau
Không gạo nấu cháo, làm sao bây giờ






Cuộc đời đâu phải giấc mơ
Lại càng không phải vần thơ vô tình
Bà rất sợ sống một mình
Đơn côi hết kiếp, làm thinh một đời
Có con, bà nghĩ...ý trời
Con là ánh sáng cuộc đời của ta
Con là tiếng hát, lời ca
Con là cây lá, nụ hoa...ngọt lành
Áo rách, vá lại cũng lành
Cháo rau dù ít vẫn dành cho nhau
Bây giờ...hết cháo, hết rau
Thôi thì ta phải đớn đau, nghẹn sầu
Không phải bà bán con đâu
Bà tìm người tốt, van cầu nuôi con
Già nua, chấp nhập sống mòn
Không thể ích kỷ để con héo gầy
Bà sợ mấy quán thịt cầy
Sợ lắm mấy chỗ "cờ tây", "mộc tồn"
Sợ gặp hổ, báo, cáo, chồn...
Sợ con gặp đám cô hồn bất nhân
Với bà, con là người thân
Cho con , bà cũng bần thần, xót xa
Con về ở với người ta
Chắc họ sẽ giống như bà...thương con !
Share:

Tam Thanh Đạo tổ

 Tam Thanh Đạo Tổ 三青 là hợp xưng của Ngọc Thanh 玉清, Thượng Thanh 上青và Thái Thanh 太青, là nơi cư trú của 3 vị tôn thần tối cao mà Đạo giáo tín phụng, cho nên 3 vị tôn thần tối cao này hợp xưng là “Tam Thanh”.

Tiên tượng Tam Thanh Đạo Giáo

Theo Đạo giáo tông nguyên 道教宗源, thanh khí do hỗn động thái vô nguyên hoá sinh làm Thiên Bảo Quân 天宝君, cũng xưng là Nguyên Thuỷ Thiên Tôn 元始天尊, cư trú tại Thanh Vi Thiên Ngọc Thanh Cảnh 清微天玉清境, nên xưng là Ngọc Thanh 玉清. Khí do xích hỗn thái vô nguyên huyền hoàng hoá sinh làm Linh Bảo Quân 灵宝君, cũng xưng là Linh Bảo Thiên Tôn 灵宝天尊, cư trú tại Vũ Dư Thiên Thượng Thanh Cảnh 禹余天上清境, cho nên xưng là Thượng Thanh 上清. Khí do mịch tịch huyền thông nguyên huyền bạch hoá sinh làm Thần Bảo Quân 神宝君, cũng xưng là Đạo Đức Thiên Tôn 道德天尊, tức Thái Thượng Lão Quân 太上老君, cư trú tại Đại Xích Thiên Thái Thanh Cảnh 大赤天太清境, cho nên xưng là Thái Thanh 太清. Ba vị tôn thần này mỗi vị là giáo chủ, tức Tam Động chi tôn thần, thống ngự các thiên thần, là tông của thần vương, chủ của phi tiên, vũ trụ vạn vật đều do 3 vị sáng tạo ra.
          Trong Tuỳ thư – Kinh tịch chí 隋书 - 经籍志cho rằng, Nguyên Thuỷ Thiên Tôn sinh ra trước thái nguyên 太元, thọ bẩm khí tự nhiên, xông lên không trung ngưng tụ lại, chẳng biết chỗ tận cùng, cho nên xưng là Nguyên Thuỷ 元始.
          Trong Tuỳ thư – Thích Lão chí 隋书 - 释老志cho rằng, Thái Thượng Lão Quân sinh trước thiên địa, dấu vết vô thường, từng làm thầy Tam Hoàng Ngũ Đế 三皇五帝.
          Có thuyết cho rằng, Tam Thanh là 3 hoá thân của Nguyên Thuỷ Thiên Tôn vào những thời kì khác nhau. Cũng có thuyết cho rằng, do Thái Thượng Lão Quân nhất thể mà hoá ra.

Share:

BÍ MẬT THÀNH TỰU PHÁP - VIÊN MÃN MỌI MONG NGUYỆN THẾ GIAN

 BÍ MẬT THÀNH TỰU PHÁP - VIÊN MÃN MỌI MONG NGUYỆN THẾ GIAN: 

Theo Đại sư. Hỏa Phượng Hoàng

Chúng ta vẫn thường hay nghe nói trì chú có vô lượng vô biên công đức, vô số lợi ích hữu dụng để cứu độ chúng ta trong cõi ta bà này như: trị bệnh, tiêu tai giải ách, bảo mệnh hộ thân cho đến cầu tài tăng ích, trường thọ phát triển lòng từ bi trí tuệ, giác ngộ,... âu đa số những người hành trì mật tông trong đời sống hiện tại cũng vẫn thường cầu nguyện thành tựu cho các mong nguyện thế gian. Những ước nguyện thế gian tuy chỉ là giả tạm, là phóng chiếu, song với chúng sinh thì đây vẫn là những điều rất cần thiết. Cũng như khi bạn đang mơ thì giấc mơ đó rất thật, chỉ khi tỉnh dậy nó mới biến mất và bạn mới biết là mình đang mơ. Những trải nghiệm sợ hãi, nguy hiểm, hạnh phúc, buồn đau đều rất thật, vậy nên đôi khi bạn tỉnh giấc trong tâm trạng rất vui hoặc ngược lại là trong nước mắt. 


Chừng nào bạn còn trôi lăn trong luân hồi, lẽ tất nhiên chư Phật sẽ trợ duyên để những tâm nguyện của bạn được viên mãn. Vì vậy, hôm nay Hỏa Phượng Hoàng sẽ chỉ dẫn 1 vài công thức hành trì thần chú để biến ước nguyện của bạn trở thành hiện thực. Việc của bạn là phải siêng năng hành trì mỗi ngày để có chánh tinh tấn, việc tinh tấn sẽ giúp bạn có định lực vững vàng để hiện thực hóa ước mơ. 


Con người ta khi hành trì thần chú nếu liên tục mỗi ngày không gián đoạn thì sau 21 ngày đã có thể hình thành trong ý thức như 1 thói quen, thường thì sau 100 ngày bạn hành trì liên tục và cầu nguyện 1 ước nguyện nào đó gửi thông điệp vào vũ trụ như vậy thì sẽ đủ năng lượng để biến điều ước đó thành hiện thực. Bài viết hôm nay tôi sẽ chỉ dẫn về việc đưa ước nguyện của bạn trực tiếp vào việc hành trì thần chú của 1 vài bổn tôn phổ truyền. Vị đầu tiên tôi muốn nhắc đến là về độ mẫu Tara. Chúng ta nên tìm hiểu trước về thệ nguyện của ngài. 


Đức Lục Độ Phật Mẫu đã phát thệ nguyện rằng: “Bất cứ ai, chỉ cần nghe được hồng danh của ta, nhớ tới hồng danh ta trong khi cầu nguyện, thực hành, thì sẽ được giải thoát khỏi mọi hiểm nguy, nguyện cho mọi mong nguyện thế gian và xuất thế gian đều được viên mãn”. Ngài đã cầu nguyện để viên mãn bản thệ đó, Ngài đã dành trọn sự thực hành để hồi hướng cho tâm nguyện đó. Ở đây tôi muốn nói đến thệ nguyện của ngài, đức Tara là bổn tôn của Kim Cang Thừa, không phải bổn tôn của Tịnh Độ, tuy nhiên khi tìm hiểu về các điển tích của ngài đều nói về việc nghe, nhớ đến hồng danh ngài và cầu nguyện giải thoát lên ngài thì sẽ được viên mãn mọi mong nguyện. Vậy ở đây, việc trì niệm hồng danh của Tara tuy không có trong truyền thống Kim Cang Thừa nhưng dựa vào thệ nguyện của ngài, ta có thể hành trì niệm danh hiệu ngài kết hợp với việc tán thán 21 độ mẫu và trì tụng thần chú để cầu nguyện sẽ dễ dàng được viên mãn y như bản thệ ngài đã phát nguyện. 


Về bài tán thán Tara, đạo sư của tôi từng dạy rằng: vì thệ nguyện của độ mẫu Tara chủ về hành động và viên mãn mọi mong cầu chúng sinh cho nên nếu bất kỳ ai trong 2 thời sáng từ khoảng 4h có thể đọc bài tán thán 21 độ mẫu 12 lần và trì chú của ngài, chiều từ 17h có thể hành trì 1 lượt 12 lần tán thán và trì chú của ngài rồi cầu nguyện 1 tâm nguyện nào đó thì sau 100 ngày liên tục cái năng lượng đó đủ mạnh để biến ước nguyện thành hiện thực, đạo sư còn đùa rằng thậm chí cái năng lượng đó đủ mạnh để các con cầu nguyện để giết chết 1 ai đó có lẽ ngài cũng sẽ làm. Nhưng tất nhiên, chúng ta có lòng từ bi sẽ không làm như thế. 


Về thần chú của ngài, chúng ta vẫn hay hành trì câu chú 10 chữ căn bản: 

Om ta rê tut ta rê tu rê sô ha 


Tôi sẽ chỉ dẫn cho các bạn 1 phương pháp đưa trực tiếp mong muốn của bạn vào thần chú để dẫn truyền viên mãn mọi mong cầu. 


Công thức như sau: 

Om ta rê tut ta rê tu rê ........ soa ha 


Ví dụ: 

1. om tare tut ta rê tu rê "diệt trừ oan gia và kẻ thù" soa ha

2. Om ta rê tut ta rê tu rê "tăng trưởng trí tuệ" soa ha

3. Om ta rê tut ta rê tu rê "giác ngộ tính không" soa ha

4. Om ta rê tut ta rê tu rê "diệt trừ phiền não" soa ha

5. Om ta rê tut ta rê tu rê "hãy ban cho con sự giàu có" soa ha 


Trên đây là 1 vài ví dụ cho công thức trên, bạn có thể thay chỗ "...." bằng tâm nguyện bạn mong muốn có được. Với công thức này, bạn có thể thành tựu các mong nguyện thế gian cho đến xuất thế gian.

Tất nhiên bạn sẽ phải hành trì ít nhất 10 chuỗi (tương đương 1080 lần) liên tục mỗi ngày. 100 ngày chỉ là với những mong nguyện thế gian khả năng có thể thực hiện được. Còn với những ước nguyện lớn hơn sẽ cần nhiều thời gian nhiều hơn để hoàn thành, phụ thuộc vào công đức của bạn có được bao nhiêu nữa, nên hành trì kết hợp chú "om mani padme hum" để tích tập công đức nhanh chóng, chú trăm âm để diệt trừ bớt đi nghiệp chướng đang cản trở làm chướng ngại cho bạn và kết hợp cùng công thức này để công đức bạn gieo trồng luôn tăng trưởng để biến ước nguyện bạn đang gieo trồng bằng thần chú tara sớm viên mãn thành hiện thực. Đây là cách để bạn gửi thông điệp cầu nguyện trực tiếp lên độ mẫu Tara vào mỗi câu thần chú thay vì phải hành trì xong nghi quỹ, trì tụng thần chú xong bạn mới cầu nguyện được 1 lần cho cả 1 lần hành trì. 


Về thời điểm thực hành pháp tùy vào mỗi mục đích mong nguyện khác nhau mà sẽ hành trì vào các giai đoạn của chu kỳ mặt trăng khác nhau trong tháng:

- Nếu sử dụng vào mục đích tức tai, bạn nên bắt đầu hành trì từ ngày m1 

- Nếu sử dụng vào mục đích tăng ích, bạn nên bắt đầu từ ngày m8, 

- Nếu sử dụng vào mục đích kính ái, bạn nên bắt đầu từ ngày 16, 

- Nếu sử dụng vào mục đích hàng phục, bạn nên bắt đầu từ ngày 23.

Bạn nên lập 1 bảng tính túc số mỗi ngày và sau mỗi lần hành trì sẽ ghi vào đó. Đủ 100 ngày từ ngày hành pháp trở đi, các tháng trở về sau bạn có thể hành trì theo các khoảng thời gian nhất định trong tháng để hành pháp duy trì năng lượng gia trì. Vd sau 100 ngày các pháp tức tai sẽ hành trì từ ngày m1- m8, các pháp tăng ích sẽ chỉ hành trì từ ngày m8- ngày 15 âm, các pháp kính ái sẽ hành trì từ ngày 16 - ngày 23 âm, các pháp hàng phục sẽ hành trì từ ngày 23 đến hết tháng (tùy mỗi tháng 29/30 ngày) 


Trong hình tướng của Tara, trên tay ngài luôn trì giữ nhánh hoa sen xanh - hoa utpala, loài hoa này chỉ nở vào ban đêm với ý nghĩa xua tan đi mọi sợ hãi trong màn đêm tăm tối. Tuy nhiên, loài hoa này nơi chúng ta không có. Vì vậy 1 cách cúng dường lên ngài với ý nghĩa về loài hoa này là bạn có thể mua nến hoa sen màu xanh tượng trưng và thắp sáng lên khi hành trì pháp của ngài, ánh sáng này có ý nghĩa giúp bạn xua tan đi sợ hãi chướng ngại vượt qua bóng tối như ý nghĩa của hoa utpala vậy.

Ngoài công thức trên, tôi có thể nêu ra 1 vài công thức do các đạo sư tây tạng truyền dạy lại. Các công thức này đều xuất khởi bắt nguồn từ câu thần chú gốc, chỉ khác về tiếng địa phương: của ng Tạng dùng tiếng Tạng, của ng Việt thì dùng tiếng Việt cho tâm thức dễ dàng thu nhận. 


1. Định thức thứ nhất: 


Om - Täre Tuttare Ture - Sarva...... śāntim Kuru - Svāhā

(Sarva có nghĩa là khiến cho...., santim kuru có ý nghĩa trừ tai nạn/chướng ngại - bảo mệnh hộ thân, chủ về phòng trừ)

Trừ Quỷ Thần: Om - Tare Tuttare Ture - Sarva grahān śāntim Kuru - Svāhā. 


Trừ chướng nạn: Om - Täre Tuttare Ture - Sarva vighnän śāntim Kuru - Svāhā. 


Trừ bệnh tật truyền nhiễm : Om – Täre Tuttāre Ture - Sarva vyādhīn śāntim Kuru - Svāhā. 


Trừ nhiệt bệnh: Om - Täre Tuttare Ture - Sarva jvarān śāntim Kuru Svāhā. 


Trừ bệnh hoạn: Om - Täre Tuttare Ture - Sarva rogān śāntim Kuru 


- Trừ phiền não: Om - Täre Tuttare Ture - Sarva upadravān śāntim Kuru - Svāhā. 


Svāhā. Trừ sự chết yểu phi thời: Om – Tăre Tuttare Ture - Sarva akāla-mrtyün śāntim Kuru - Svāhā. 


Trừ giấc mơ xấu: Om – Täre Tuttare Ture - Sarva duşvapanān śāntim Kuru - Svāhā. 


Trừ sự Bất Tường: Om – Tăre Tuttare Ture - Sarva durni mittāni śāntim Kuru - Svāhā. 


Trừ sự lầm lẫn: Om - Täre Tuttare Ture - Sarva cittā kulāni śāntim Kuru - Svāhā. 


2 Định thức thứ hai: 


Om - Tare Tuttare Ture - Sarva...........Rakşam Kuru - Svāhā

(Raksam kuru cũng có ý nghĩa là trừ tai nạn, tuy nhiên khác với santim kuru, raksam mang nghĩa về diệt trừ, hàng phục, ví dụ ai đang gặp nạn quan tư thị phi dùng cái này diệt trừ họa ách đập tan thị phi cũng được) 


Trừ oan gia và kẻ thù: Om – Täre Tuttare Ture - Sarva śatrübhyo Rakşam Kuru - Svāhā 


Trừ chất độc, các loại độc: Om Rakşam Kuru - Svāhā Täre Tuttare Ture - Sarva vişebhyo 


Trừ Chú Trớ Yểm Đảo: Om Täre Tuttare Ture Sarva krtyā-kākhordebhyo Rakşam Kuru - Svāhā 


Trừ binh trận: Om - Tare Tuttare Ture - Sarva yudhebhyo Rakşam Kuru - Svāhā 


Trừ sự phiền não tai nạn: Om Täre Tuttare Ture Sarva bhaya upadrvaebhyo Rakşam Kuru - Svāhā 


Trừ hành động xấu ác: Om Tare Tuttare Ture Sarva duşkrtebhyo Rakşam Kuru - Svāhā 


3 Định thức thứ ba: 


Om - Tare Tuttare Ture .......Svāhā.

(Định thức này có thể được sử dụng cho tất cả mục đích như tức tai, tăng ích, kính ái, hàng phục) 


Om - Täre Tuttare Ture - Sarva bhaya vimocana - Rāja, caura, Agni, Vişa, Udaka bhayāni praśamaya - Svāhā. 


(Om Tare Tuttāre Ture – Vượt thoát mọi sự sợ hãi, chận đứng, tiêu diệt sự sợ hãi 


về: vua chúa, trộm cướp, lửa, thuốc độc, nước - Svāhā) 


Om - Tare Tuttare Ture - Sarva bandhana - Tadana - Rāja, Taskara, Agni, Udaka, Vişa śastrāni parimocaka - Svāhā.

(Om Tāre Tuttāre Ture – Vượt thoát mọi sự trói buộc, sự đánh đập, vua chúa, trộm cướp, lửa, nước, thuốc độc, dao gậy - Svāhā) 


Om - Täre Tuttare Ture - Sarva pāpam Avaraņa viśuddhe - Svāhā. 

(Om Tāre Tuttāre Ture – Tinh lọc hoàn toàn mọi tội lỗi và chướng ngại – Svāhā) 


Om - Täre Tuttare Ture mama dhana sarva cora bandha Svāhā 

(Om Tare Tuttāre Ture _Cột trói tất cả giặc cướp của cải của tôi _ Svāhā) 


Om - Täre Tuttāre Ture Asmān apakāra sarva cora bandha Svāhā 

(Om Tāre Tuttāre Ture Cột trói tất cả trộm cướp, kẻ gây ra thiệt hại cho chúng tôi _ Svāhā) 


Om - Tare Tuttare Ture_Dhanam me Dehi - Svāhā 

(Om Tāre Tuttare Ture - Hãy ban cho tôi sự giàu có - Svāhā) 


4 Đình thức thứ tư: 


Om - Tare Tuttare Ture ...... Puşţim Kuru - Svāhā.

(Pustim kuru có ý nghĩa là sở cầu như ý, dùng vào các mục đích tăng ích, chiêu tài) 


Tăng trưởng Thọ Mệnh, Phước Đức, Trí Tuệ: Om – Tăre Tuttare Ture - Mama Ayuh punye jñāna Puşțim Kuru - Svāhā. (Câu này chính là của bổn tôn Tara trắng) 


Tăng trưởng năng lực Công Đức: Om – Tăre Tuttare Ture -punya Puşțim Kuru - Svāhā. 


Tăng trưởng Trí Tuệ: Om – Täre Tuttare Ture -Prajña Puşțim Kuru Svāhā. 


Tôn chỉ về pháp của Hoàng Thần Tài chính là: muốn được tài thì phải thí tài và xả tài, bỏ đi tâm keo kiệt ích kỷ của bản thân. Một phương pháp đơn giản để thực hành là bạn nên mua 1 hòm công đức nho nhỏ để bàn thờ ngài, mỗi lần hành trì bạn sẽ cúng dường lên ngài ít tiền, vd ban đầu là 2k, 3k, có điều kiện hơn thì bỏ 10k, 20k, 50k,... mỗi ngày như vậy tích tụ lại đến các ngày m1, 15 âm thì bạn lấy số tiền đã tích lũy được trong hòm công đức mua đồ phóng sinh (vd: lươn, ốc, ếch, cá,....) và hồi hướng cầu nguyện. Mỗi tháng thực hành phóng sinh 1-2 lần, có điều kiện thì nhiều hơn. Ngoài ra có thể dùng số tiền đó bố thí cho những người nghèo khổ, hoặc công đức các nơi đền chùa,.... Số tiền này chỉ dành vào việc thí tài, không nên lấy đó để dùng vào mục đích cá nhân. Dần dần bạn sẽ thấy tài lộc của bạn tăng trưởng, công việc thuận lợi. 

Về công thức thần chú của ngài có công thức như sau:

Om zam ba la za len đa yê......(mong nguyện) soa ha

Ví dụ:

1. Om zam ba la za len đa yê "giàu có thịnh vượng" soa ha

2. Om zam ba la za len đa yê "công việc thu nhập cao"soa ha

3. Om zam ba la za len đa yê "trúng số độc đắc" soa ha

4. Om zam ba la za len đa yê "thu nhập 100 triệu mỗi tháng" soa ha

Một công thức khác từng được một đạo hữu chia sẻ là : 

Om yak sa zam ba la za len đa yê mani......(mong nguyện) soa ha

(Yak sa nghĩa là Dạ xoa, ám chỉ ngài là vua của chúng Dạ Xoa, Mani là viên ngọc báu như ý)

Đã từng có 1 vài đạo hữu học theo công thức này để trúng số độc đắc, hành trì liên tục mới chỉ trong 2 tuần thì họ đã trúng số liên tục, tuy không phải số độc đắc nhưng cũng đã giúp họ gặp may mắn rất nhiều, huống chi là 100 ngày trở lên

Mỗi ngày hành trì 1080 thần chú. Sau 100 ngày sẽ thấy tài lộc, thu nhập của bạn được cải thiện rất nhiều. Tùy vào mong nguyện bạn đưa vào thần chú sẽ giúp bạn từng bước được thỏa mãn mong cầu đó. Tuy nhiên, đừng quên bố thí học cách xả tài, có vậy thì tài bảo bạn kiếm được mới bền vững và càng ngày càng sung túc đủ đầy. 


Tương tự như 2 bổn tôn trên, thần chú của Chuẩn Đề Phật Mẫu cũng sẽ giúp viên mãn mọi mong cầu với công thức sau:

Om cha lê chu lê chun đê..... soa ha

Đây là công thức chung cho các pháp về tức tai, tăng ích, kính ái, hàng phục. Ngoài ra các bạn có thể áp dụng như theo pháp của Tara: 


1. Tức Tai: 

OṂ_ CALE CULE CUṄDHE (Khiến cho…) ŚĀNTIṂ KURU _ SVĀHĀ 


2. Tăng ích:

OṂ_ CALE CULE CUṄDHE (Khiến cho….) PUṢṬIṂ KURU _ SVĀHĀ 


3. Kính ái:

OṂ_ CALE CULE CUṄDHE ( Khiến cho…. ) VAŚI KURU _ SVĀHĀ

(Vasi kuru là nhiếp triệu ai đó thành tựu mong cầu của mình, bạn có thể nhiếp triệu vị thần nào đó hoặc nhiếp tâm 1 người nào đó có duyên với bạn mà bạn muốn thu hút, như crush, người bạn thương hoặc có thể muốn thân thiết với 1 người nào đó như bạn bè, đồng nghiệp, cấp trên,....) 


4. Hàng phục:

OṂ_ CALE CULE CUṄDHE HŪṂ PHAṬ 


(Hum phat được dùng trong các câu chú về hàng phục, vd kẻ thù, oan gia,...tuy nhiên không nên sử dụng định thức này nếu chưa được thọ các pháp về phẫn nộ, giáng phục) 


Và tôi vẫn khuyên dùng câu chú căn bản để dễ truyền tải hơn thay vì sử dụng các định thức riêng biệt theo từng mục đích khác nhau. 


Nếu các bạn tìm hiểu về tự kỷ ám thị sẽ hiểu việc lặp đi lặp lại 1 ý muốn bất kỳ bằng lời nói mỗi ngày sẽ hấp thụ nó xuống dưới phần tiềm thức và khiến tiềm thức hoạt động, 1 khi tiềm thức hoạt động thì tần số năng lượng sẽ được nâng cao để đạt được điều tương đồng đúng với ý muốn bạn phát ra, giống như bạn truyền tải thông điệp vào vũ trụ và đón nhận lại sự phản hồi của vũ trụ trở ngược lại bạn. Thì sự vận hành của các thần chú cũng vậy, tuy nhiên ở đây chúng ta không chỉ có sự giúp sức của vũ trụ mà còn có cả tha lực của chư Phật hỗ trợ giúp bạn đạt được điều bạn muốn, thần chú ấy được thuyết ra từ tâm của chư Phật sẽ càng mạnh mẽ hơn vì nó mang theo cả những hạnh nguyện thành tựu của các ngài. Não bộ chúng ta là tổng thể không gian đa chiều, để từng bước mở ra các chiều không gian này thì ý thức của chúng ta phải được học và tiếp thu đầy đủ tri thức để đủ năng lực mở khóa từng chiều không gian trong tiềm thức. Thậm chí tiềm thức nó hiểu được tất cả các loại ngôn ngữ dù ý thức của bạn không hề được học. Đó cũng là 1 bí mật về việc tạo lập và hình thành các hóa thân...nếu bạn nắm giữ được các chìa khóa này, bạn sẽ có khả năng tu luyện để trở thành các hóa thân Phật, tự thân bạn sẽ có gia trì của chư Phật, bạn có thể trở thành hóa thân của Tara, Quan Âm,... hay bất kỳ vị nào bạn tôn thờ.. Tôi đang trong quá trình nghiên cứu thử nghiệm về loại công thức mới để khai mở các chiều không gian này, bạn của tôi đã từng có người áp dụng và tự thân họ có phép thuật, họ không thực hành tu luyện phép thuật ngày nào nhưng nhờ phương pháp này họ biết dịch chuyển tức thời ngay trong 1 khoảnh khắc, vì đang trong quá trình thử nghiệm nên tôi sẽ không công khai. Viết đến đây có lẽ dài rồi, chúc các bạn ngày mới vui vẻ, cám ơn đã quan tâm theo dõi.


Share:
Main Ad ➤ Click "VÀO ĐÂY" Doanh nhân và Thương hiệu ASEAN luôn cập nhật

Quốc Gia Truy Cập

Flag Counter

Bài đăng nổi bật

Cách đưa Webite lên Index

  Để đưa một website lên Google Index (xuất hiện trên kết quả tìm kiếm), bạn cần thực hiện theo quy trình chuẩn gồm 4 bước chính sau đây. 1....

Bài mới đăng

Flag Counter

Lưu trữ Bài viết

Tổng số lượt xem trang

Ủng Hộ Chúng Tôi

Liên hệ Nhà thơ Hoàng Huy

Tên

Email *

Thông báo *

Cho Đặt Banner Quảng cáo

Like Fanpage Phong Thủy để cập nhật các thủ thuật mới nhất mỗi ngày OK Để sau